Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2024/HS-ST

Ngày: 20-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hà Văn Tôn
  2. Ông Nguyễn Hồng Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 116/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Văn C (tên gọi khác: Không), sinh ngày 09 tháng 08 năm 1994 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố H, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Đ và bà Hoàng Thị N; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

2. Hoàng Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 14 tháng 6 năm 1986 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố H, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn C1 (đã chết) và bà Ngô Thị V; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 11/6/2019, bị C3 (nay là thành phố) Phổ Yên xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” tại Quyết định số 0105264/QĐ-XPHC.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

3. Trần Thu H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 29 tháng 7 năm 1998 tại tỉnh Thanh Hoá; nơi đăng ký thường trú: xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L (đã chết) và mẹ là Trịnh Thị M; có chồng là Cao Văn T1 và 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn C: Ông Đào Nguyên T2 và ông Ngô Thế H1 – Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố H. Ông T2 vắng mặt, ông H1 có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Phàn Thị N1, sinh năm: 2004; địa chỉ: Bản L, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
  2. Bà Hoàng Thị B, sinh năm: 1964; địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Hoàng Văn N2, sinh năm: 1983; địa chỉ: tổ dân phố N, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
  2. Chị Trung Thị H2, sinh năm: 1989; địa chỉ: xóm Đ, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Hà Thanh N3, sinh năm: 1964; địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 15 phút ngày 24/12/2023, Hoàng Văn C sử dụng số điện thoại 0967.949.xxx gọi đến số điện thoại 0393.066.xxx của Trần Thu H để đặt phòng hát tại quán K thuộc tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên do Hoàng Văn Tiến quản lý. Đến 23 giờ 36 phút cùng ngày, C gọi lại cho H hỏi xem có phòng chưa rồi C một mình đi đến quán và gặp T. Tại đây, C nhờ T mua giúp một viên ma tuý “Kẹo” và nửa chỉ ma tuý “Ke” để sử dụng trong phòng, sau khi mua được ma tuý thì lên phòng “xào ke” giúp C, T đồng ý và bảo C chuyển tiền cho H để mua ma tuý. Do T và C có quan hệ họ hàng, H là người yêu của T nên T và H xác định sau khi mua được ma tuý thì T và H sẽ lên phòng để cùng sử dụng ma tuý với C. C sử dụng tài khoản số 0967949863 ngân hàng M1 của C và chuyển số tiền 1.500.000 đồng đến số tài khoản 19038947891012 ngân hàng T5 của H để H mua ma tuý, số tiền thừa thì sẽ trả tiền cho nhân viên phục vụ và nước uống. Sau đó, T bảo C lên phòng 3 tầng 2, còn H gọi Phàn Thị N1 (sinh năm 2004; trú tại bản L, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu) đến để phục vụ C. Trước khi lên phòng, C rủ Trung Thị H2 (sinh năm 1989; trú tại xóm Đ, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên) lên phòng hát cùng. Một lúc sau, N1 đến rồi vào phòng 3 tầng 2 để phục vụ và hát cùng C. Sau khi nhận được tiền, H liên hệ qua zalo với một người nam giới không quen biết mua được của người nam giới này một viên ma tuý “Kẹo” giá 300.000 đồng và nửa chỉ ma tuý “Ke” giá 700.000 đồng (H trả tiền mua ma tuý bằng tiền mặt). Mua được ma tuý, H đi lên phòng 3 tầng 2 rồi đưa viên ma tuý “Kẹo” cho C và đặt túi nilon chứa ma tuý “Ke” để trên mặt bàn trong phòng rồi đi xuống trực quầy lễ tân. Nhận được ma tuý, C bẻ viên ma tuý “Kẹo” thành 02 mảnh rồi đưa một mảnh cho N1 sử dụng, mảnh còn lại C tự sử dụng bằng hình thức cho ma tuý “Kẹo” vào miệng và uống cùng với nước. Một lúc sau, C gọi T lên phòng để sử dụng ma tuý thì T đồng ý và mang theo 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu xanh vào phòng, đồng thời rủ H lên phòng 3 tầng 2 để cùng sử dụng ma tuý. Vào phòng, T lấy bật lửa ga màu đỏ có sẵn trong phòng hơ nóng đáy đĩa, lấy túi ma tuý “Ke” đang được đặt trên mặt bàn, đổ ma tuý ra đĩa, dùng thẻ nhựa để “xào ke”. T tiếp tục lấy tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng rồi cuộn tròn thành dạng ống hút để làm công cụ sử dụng ma tuý. Sau đó, T bê đĩa sứ chứa ma tuý “Ke” được xào sẵn cho C và N1 sử dụng, C và N1 sử dụng ma tuý xong thì T tự sử dụng ma tuý đều bằng hình thức dùng ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng hít ma tuý vào mũi. Khoảng 30 phút sau, H và H2 vào phòng. T tiếp tục bê đĩa ma tuý “Ke” được xào sẵn cho H và H2 sử dụng, H và H2 sử dụng xong thì ma tuý trên đĩa hết. Đến khoảng hơn 02 giờ ngày 25/12/2023, Hoàng Văn N2 (sinh năm 1983; trú tại tổ dân phố N, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) đến quán K tìm gặp H2 và được T gọi lên phòng 3 tầng 2 để cùng sử dụng ma tuý, N2 đồng ý và lên phòng. Lúc này, T bảo C góp 500.000 đồng để mua thêm ma tuý cho mọi người cùng sử dụng, C đồng ý và chuyển số tiền 500.000 đồng vào tài khoản của H, nếu thiếu thì T sẽ trả thêm. H liên lạc với người nam giới lúc trước để đặt mua thêm một chỉ ma tuý “Ke” và một viên ma tuý “Kẹo”. Mua được ma tuý, H sử dụng tài khoản ngân hàng T5 số 19038947891012 của H để chuyển số tiền 1.700.000 đồng vào tài khoản ngân hàng M1 số 0332068337 mang tên NGUYEN DAC CHI cho người bán ma tuý. Sau đó, H mang ma tuý lên phòng, đưa túi ma tuý “Ke” cho T, còn viên ma tuý “Kẹo” H bẻ thành 03 mảnh và đưa cho T, N2, H2 mỗi người một mảnh. T, N2 và H2 đã sử dụng mảnh ma tuý “Kẹo” do H đưa bằng hình thức cho ma tuý “Kẹo” vào miệng và uống với nước. Sau đó, T tiếp tục đổ ma tuý “Ke” ra đĩa, “xào ke” rồi bê đĩa ma tuý cho C, H, N1, H2, N2 sử dụng, T tự sử dụng ma tuý trên đĩa. Các đối tượng sử dụng ma tuý trong phòng đến 04 giờ 30 phút ngày 25/12/2023 thì tổ công tác Công an thành phố P kiểm tra phát hiện.

Quá trình làm việc, tổ công tác đã tạm giữ: 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng màu xanh, 01 túi nilon trên mặt bàn trong phòng (niêm phong tất cả trong hộp ký hiệu A); 01 bật lửa ga màu đỏ trên mặt bàn uống nước (niêm phong trong phong bì ký hiệu B), 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn thành ống hút trên mặt ghế da trong phòng (niêm phong trong phong bì ký hiệu C), 01 túi nilon tại khe ghế da trong phòng (niêm phong trong phong bì ký hiệu D) và 02 túi nilon thu giữ trên mặt sân quán hát gần cửa kính (niêm phong trong phong bì ký hiệu E). Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 20 Ultra 5G, màu đồng, đã qua sử dụng, số IMEI 353819351358391, số IMEI (esim) 353853641358390, bên trong có lắp 01 sim Viettel số thuê bao 0967.949.xxx của Hoàng Văn C; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 869945061347973, số IMEI 2: 869945061347965, bên trong lắp một sim Vietel số thuê bao 0393.066.xxx và số tiền 1.200.000 đồng của Trần Thu H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu gold, đã cũ, đã qua sử dụng, kính sau bị vỡ nứt, số IMEI: 352982092818197 và số tiền 890.000 đồng của Phàn Thị N1.

Tiến hành test nhanh xét nghiệm nước tiểu của các đối tượng, kết quả: Hoàng Văn T, Hoàng Văn C, Trần Thu H, Phàn Thị N1, Trung Thị H2 và Hoàng Văn N2 đều dương tính với MET, MDMA, KET.

Tại bản kết luận giám định số 114/KL-KTHS ngày 03/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: “Tìm thấy chất ma tuý bám dính trên 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu xanh và 01 túi nilon trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định, loại Ketamine. Tìm thấy chất ma tuý bám dính trên 01 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng trong bì niêm phong ký hiệu C gửi giám định, loại Ketamine. Tìm thấy chất ma tuý bám dính trên 01 túi nilon trong bì niêm phong ký hiệu D gửi giám định, loại Ketamine. Tìm thấy chất ma tuý bám dính trên 02 túi nilon trong bì niêm phong ký hiệu E gửi giám định, loại Ketamine.”

Tại bản cáo trạng số 125/CT-VKSPY ngày 08/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn C, Hoàng Văn T, Trần Thu H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, vật chứng thu giữ.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn C, Hoàng Văn T, Trần Thu H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Hoàng Văn C và Hoàng Văn T; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Hoàng Văn C và Hoàng Văn T mỗi bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; Trần Thu H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng, đề nghị:

  • - Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý, vỏ bao gói kèm theo và các đồ dùng để sử dụng ma tuý;
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các điện thoại của các bị cáo Hoàng Văn C, Trần Thu H và số tiền 10.000 đồng; trả lại cho Phàn Thị N1 01 điện thoại di động và số tiền 890.000 đồng; trả lại cho Trần Thu H số tiền 1.200.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Người bào chữa cho cho bị cáo Hoàng Văn C tranh luận: Đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà. Đề nghị xét vai trò của bị cáo C trong vụ án, C không phải là người chủ mưu, chỉ đạo, điều hành, không có mục đích tìm mọi cách để đưa ma tuý vào cơ thể các đối tượng khác. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm có cơ hội được trở về hòa nhập cộng đồng và thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ khoảng 23 giờ 36 phút ngày 24/12/2023 đến 04 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, tại phòng C tầng B quán K thuộc tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Hoàng Văn C đã có hành vi chuyển khoản tổng số tiền 2.000.000 đồng cho Trần Thu H để H mua 02 viên ma tuý “Kẹo” và 02 túi ma tuý “Ke” cho C cùng H, Hoàng Văn T, Trung Thị H2, Phàn Thị N1 và Hoàng Văn N2 sử dụng trong phòng hát. C còn có hành vi bẻ 01 viên ma tuý “Kẹo” và đưa 01 mảnh cho N1 sử dụng. Hoàng Văn T có hành vi sử dụng địa điểm do mình trực tiếp quản lý, góp tiền cùng C mua ma tuý cho các đối tượng khác sử dụng; chuẩn bị đĩa sứ, thẻ nhựa màu xanh, cuộn tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng thành dạng ống hút để làm công cụ sử dụng ma tuý và dùng bật lửa hơ nóng đĩa sứ, đổ ma tuý “Ke” ra đĩa, dùng thẻ nhựa màu xanh đảo trộn ma tuý nhằm “xào ke” rồi bê đĩa có chứa ma tuý “Ke” đã được xào sẵn cho C, H, H2, N1 và N2 sử dụng đều bằng hình thức dùng ống hút được cuộn bởi tờ tiền polime 10.000 đồng do T chuẩn bị để hít ma tuý qua đường lỗ mũi vào cơ thể. Trần Thu H có hành vi mua ma tuý, mang ma tuý lên phòng cho C, bẻ 01 viên ma tuý “Kẹo” thành 03 mảnh và đưa cho T, N2 và H2 mỗi người một mảnh để sử dụng trong phòng. Khi các đối tượng trên đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an thành phố P kiểm tra, phát hiện xử lý.

Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là phạm tội “Đối với 02 người trở lên”. Tội danh và hình phạt được quy định cụ thể như sau:

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:...
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: ...
  3. Đối với 02 người trở lên;...

[3] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:

  • - Về nhân thân: Bị cáo Hoàng Văn T từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc vào năm 2019, là người có nhân thân xấu, hai bị cáo Hoàng Văn C và Trần Thu H đều là người có nhân thân tốt.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng Văn T có ông nội là Hoàng Văn T3 được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì và ông ngoại là Ngô Văn H3 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; bị cáo Hoàng Văn C có ông ngoại là Hoàng Văn Q được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất, bố đẻ bị cáo là ông Hoàng Văn Đ là Cựu chiến binh Việt Nam nên các bị cáo T, C được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[4] Về hình phạt đối với các bị cáo:

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của các bị cáo đều mang tính giản đơn, không có sự phân công, tổ chức chặt chẽ.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Hoàng Văn T là người thực hiện hành vi phạm tội tích cực nhất, cung cấp địa điểm, góp tiền cùng C mua ma tuý cho các đối tượng khác sử dụng, chuẩn bị công cụ chơi ma tuý, xào ke, mời tất cả các đối tượng chơi ma tuý nên giữ vai trò cao nhất trong vụ án. Hoàng Văn C là người cung cấp tiền để mua ma tuý và mặc nhiên chấp nhận cho các đối tượng còn lại cùng chơi ma tuý nên giữ vai trò thứ hai trong vụ án. H là người là người liên hệ mua ma tuý theo chỉ đạo của T, bẻ ma tuý cho các đối tượng khác sử dụng, giữ vai trò thấp nhất trong vụ án. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc tính chất, mức độ, nhân thân của từng bị cáo để đưa ra mức án phù hợp.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: Trước khi phạm tội các bị cáo không có thu nhập ổn định, phạm tội không có mục đích thu lời bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án: Toàn bộ các công cụ để sử dụng ma tuý, vỏ bao gói kèm theo không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu huỷ; Các điện thoại của các bị cáo Hoàng Văn C, Trần Thu H và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng đều là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; Điện thoại của Phàn Thị N1 và số tiền 890.000 đồng tạm giữ của N1, số tiền 1.200.000 đồng tạm giữ của Trần Thu H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho chị N1 và H quản lý, sử dụng nhưng cần tạm giữ số tiền 1.200.000 đồng của H để đảm bảo thi hành án.

[6] Về án phí và chi phí tố tụng: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Phàn Thị N1, Trung Thị H2 và Hoàng Văn N2, Cơ quan điều tra sẽ chuyển hồ sơ đến Công an thành phố P để xử phạt hành chính theo quy định.

Đối với bà Hoàng Thị B (sinh năm 1964; trú tại tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) là người cho Hoàng Văn T thuê lại cơ sở kinh doanh Karaoke Miami. Quá trình điều tra xác định, bà B không biết, không tham gia và không được hưởng lợi gì từ việc các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Về nguồn gốc số ma tuý các đối tượng sử dụng, Trần Thu H khai mua của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ, khi mua ma tuý của người này thì H chuyển tiền đến tài khoản số 0332068337 ngân hàng M1 mang tên NGUYEN DAC CHI. Quá trình điều tra xác định chủ số tài khoản trên là Nguyễn Đắc C2, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập đối với Nguyễn Đắc C2 nhưng đến nay không biết C2 đang làm gì, ở đâu nên cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 (khoản 2 áp dụng đối với bị cáo Hoàng Văn T, Hoàng Văn C) Điều 51; Điều 47; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Các bị cáo Hoàng Văn C, Hoàng Văn T, Trần Thu H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt:

2.1. Về hình phạt chính:

  • - Xử phạt Hoàng Văn T 08 (T) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 12 năm 2023.
  • - Xử phạt Hoàng Văn C 08 (T4) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 12 năm 2023.
  • - Xử phạt Trần Thu H 07 (Bẩy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 12 năm 2023.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2.2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 túi niêm phong ký hiệu A ghi bên trong có 01 đĩa màu trắng, 01 thẻ nhựa màu xanh và 01 túi nilon; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu B ghi bên trong có 01 bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu D ghi hoàn trả 01 túi nilon sau giám định và vỏ bao gói D; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu E ghi hoàn trả 02 túi nion sau giám định và vỏ bao gói mẫu E;
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy Note 20 Ultra 5G, màu hồng, đã qua sử dụng, có lắp 01 sim Viettel của Hoàng Văn C đựng trong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu ĐT2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh, đã qua sử dụng, có lắp 01 sim Viettel của Trần Thu H đựng trong bì niêm phong ký hiệu H; số tiền 10.000 đồng;
  • - Trả lại cho Phàn Thị N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu gold, đã cũ, đã qua sử dụng, kính sau bị nứt vỡ đựng trong bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu ĐT8 và số tiền 890.000 đồng.
  • - Trả lại cho Trần Thu H số tiền 1.200.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố P và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Uỷ nhiệm chi số 276 ngày 15/8/2024 của Công an thành phố P.

4. Về án phí sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS TP. Phổ Yên;
  • - Công an thành phố Phổ Yên;
  • - Trại tạm giam CAT Thái Nguyên;
  • - Nhà tạm giữ CATP Phổ Yên;
  • - Bị cáo; Người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Xuân Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 158/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn C cùng đồng phạm phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger