|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 158/2024/HS-ST Ngày 17 – 09 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Hoàng Sơn.
Bà Đoàn Thị Bảy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Trương Ngọc Kiển – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 165/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thị Thiên N, tên gọi khác: Không có; sinh năm: 1991, tại Cà Mau; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khóm A, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: khóm A, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Minh C (chết) và bà Võ Thị Ú; chồng: Trần Đức V, con: hai người, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2023; Anh em ruột: 02 người, bị cáo là người thứ hai trong gia đình; tiền án: Không.
Tiền sự: 01 lần, tại Quyết định số 32/QĐ – XPHC, ngày 23/8/2023 của Ủy ban nhân dân phường I, thành phố C xử phạt số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành; nhân thân: Xấu; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01 tháng 7 năm 2024 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Ông Trà Chí H, sinh năm 1966. Địa chỉ nơi cư trú: Khóm A, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1984. Địa chỉ nơi cư trú: Khóm A, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
- + Ông Quách Hữu N1, sinh năm 1976. Địa chỉ nơi cư trú: Khóm A, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ 38 phút ngày 01/5/2024, Phạm Thị Thiên N đi bộ từ nhà đến nhà của ông Trà Chí H. Lợi dụng đêm khuya vắng người, N dùng tay mở dây kẻm cột cổng rào rồi lẻn vào lấy 05 bao bọc, sau đó N về nhà lấy xe đẩy em bé quay lại lấy 03 đợt tổng cộng 05 bao bọc để lên xe đẩy về nhà. Đến sáng khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, N nhờ Nguyễn Văn L vác 05 bao bọc đến cửa hàng Q (do ông Quách Hữu N1 làm chủ) bán với số tiền là: 1.715.000đồng, N cho L 70.000 đồng công đi bán, số tiền còn lại N tiêu xài cá nhân.
Ông Trà Chí H phát hiện mất tài sản đến trình báo Công an phường 11, thành phố C, đồng thời trích xuất camera phát hiện Phạm Thị Thiên N lấy tài sản. - Tại Bản kết luận định giá số 56/KL-HĐĐGTS ngày 20/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:
- + 20 kilogam Bọc quai xách màu hồng, loại PE kích thước 25x35cm, độ dày 05Zem; tính từ thời điểm ngày 01/5/2024 có giá trị là 40.000đồng;
- + 109 kilogam bọc không quai xách màu trắng, loại PE kích thước 40x120cm, độ dày 07Zem tính vào thời điểm ngày 01/5/2024, có giá trị là 545.000đồng. Tổng giá trị tài sản là 585.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Thị Thiên N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Về tang vật thu giữ còn lại chờ xử lý trong vụ án: 01 bộ quần áo lửng màu đỏ, trắng, tình trạng đã qua sử dụng; 01 cái nón bo màu đen, vàng, tình trạng đã qua sử dụng; 01 chiếc xe đẩy em bé, đã bị hư hỏng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Đối với ông Nguyễn Văn L và ông Quách Hữu N1 không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Tại Cáo trạng số 158/CT-VKS ngày 27/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Phạm Thị Thiên N về tội “Trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Thị Thiên N theo Cáo trạng số: 158/CT-VKS ngày 27/08/2024 và đề nghị:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Thiên N phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thiên N từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
3
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ quần áo lửng màu đỏ, trắng, tình trạng đã qua sử dụng; 01 cái nón bo màu đen, vàng, tình trạng đã qua sử dụng; 01 chiếc xe đẩy em bé, đã bị hư hỏng.
Buộc bị cáo nộp lại số tiền 585.000 đồng theo kết luận định giá là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội để sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với ông Nguyễn Văn L và ông Quách Hữu N1 không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, thống nhất với quan điểm luận tội của kiểm sát viên và thể hiện thái độ thành khẩn khai báo. Nói lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, việc vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến nội dung xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo luật định.
[3] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không oan, không sai và thống nhất với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và cùng nhiều tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 23 tháng 8 năm 2023, bị cáo Phạm Thị Thiên N bị Ủy ban nhân dân phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau xử phạt hành chính đối với hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức xử phạt: Phạt tiền với số tiền 2.500.000 đồng theo Quyết định số 32/QĐ – XPHC, ngày 23/8/2023. Đến khoảng 02 giờ 38 phút ngày 01/5/2024, bị cáo tiếp tục lén lút chiếm đoạt chiếm đoạt 20 kilogam bọc quai xách màu hồng, loại PE kích thước 25x35cm, độ dày 05Zem và 109 kilogam bọc không quai xách màu trắng, loại PE kích thước 40x120cm, độ dày 07Zem của ông Trà Chí H, giá trị tài sản chiếm đoạt là 585.000 đồng, mục đích để bán lấy tiền tiêu dùng cho cá nhân.
[4] Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc lén lúc chiếm đoạt
4
tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền chi xài cá nhân mà bị cáo bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân trên địa bàn thành phố C.
Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị 585.000 đồng là dưới 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” được thể hiện tại Quyết định số 32/QĐ – XPHC, ngày 23/8/2023 của Ủy ban nhân dân phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Do đó, hành vi trộm cắp tài sản lần này của bị cáo đã đủ yêu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự.
Từ những căn cứ, phân tích và nhận định nêu trên, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phạm Thị Thiên N đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trạch nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
- - Về nhân thân, tiền tiết giảm nhẹ và hình phạt: Bị cáo có nhân thân xấu, tiền sự một lần; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ích nghiêm trọng; bị cáo là người đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- - Về hình phạt: Xét thấy, bị cáo có nhân thân xấu, có một tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng bị cáo đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học cho bản thân, nhưng bị cáo lại tỏ thái độ bất chấp các quy định của pháp luật, chưa chấp hành quyết định hành chính và lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cho nên cần áp dụng hình phạt tù, mức án khởi điểm khung hình phạt là tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời nhằm phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 bộ quần áo lửng màu đỏ, trắng, tình trạng đã qua sử dụng; 01 cái nón bo màu đen, vàng, tình trạng đã qua sử dụng; 01 chiếc xe đẩy em bé, đã bị hư hỏng là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- - Đối với 20 kilogam Bọc quai xách màu hồng và 109 kilogam bọc không quai xách màu trắng là tài sản của bị hại nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại nên không đặt ra xem xét.
- - Bị cáo bán tài sản do phạm tội mà có để thu lợi bất chính với số tiền 1.715.000 đồng. Do đó, cần buộc bị cáo nộp lại số tiền 1.715.000 đồng để sung quỹ nhà nước là phù hợp.
5
[7] Đối với ông Nguyễn Văn L và ông Quách Hữu N1 không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì nên không xem xét.
[9] Đề nghị của viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng án treo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Thiên N phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thiên N 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ quần áo lửng màu đỏ, trắng, tình trạng đã qua sử dụng; 01 cái nón bo màu đen, vàng, tình trạng đã qua sử dụng; 01 chiếc xe đẩy em bé, đã bị hư hỏng (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/08/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau).
- - Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội là 1.715.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
- Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Linh |
Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 158/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị xử phạt tù.
