Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Số: 158/2024/HS-ST

Ngày: 17/4/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Lượng
  2. Ông Huỳnh Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Ịp Thị T, sinh năm: 2000 tại tỉnh Bình Thuận; thường trú: Tổ E, Thôn B, xã S, huyện B, tỉnh Bình Thuận; nơi ở: Phòng 12B, nhà trọ không số, đường số A, khu phố A, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Diệp Văn H và bà: Lằm Và K; chưa có chồng con; tiền án: không có; tiền sự: không có; nhân thân: - Ngày 24/4/2019, Ủy ban nhân dân phường C ban hành Quyết định số 157/QĐ-UBND đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở xã hội T2 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến ngày 14/5/2019, Ủy ban nhân dân phường C ban hành quyết định hủy Quyết định số 157/QĐ-UBND do đương sự có nơi cư trú; bị bắt, tạm giam ngày 27/3/2023. (có mặt)

2. Mai Thành Đ, sinh năm: 1997 tại tỉnh Bình Thuận; thường trú: Tổ B, thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mai Viết N và bà: Nguyễn Thị Thu M; chưa có vợ con; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị bắt, tạm giam ngày 21/12/2023. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1]. Ịp Thị TMai Thành Đ có quan hệ tình cảm với nhau nên khoảng tháng 9 năm 2022, Đ chuyển đến phòng trọ số 12B, nhà trọ không số, đường số A, phường C, thành phố T, để sống chung với T. Cả hai cùng làm việc tại quán K3 tại địa chỉ số D N, phường T, thành phố T. Trong quá trình làm việc tại đây, T quen với một người phụ nữ tên T1 (chưa rõ lai lịch) là người hay đến quán phục vụ rót bia theo yêu cầu của khách, T1 biết T có sử dụng ma tuý nên T1 giới thiệu cho T một người đàn ông tên N1 (không rõ lai lịch) chuyên bán ma tuý để T mua ma túy sử dụng. Sau đó, giữa N1 và T thỏa thuận Thảo sẽ phụ giúp Nâu bán ma tuý bằng cách Nâu sẽ đưa ma tuý cho T cất giữ, nếu có người mua gọi cho N1 thì N1 sẽ điện thoại cho T để T đi giao ma tuý, N1 trả công cho T 200.000 đồng tiền công; nếu là người mua gọi điện cho T thì T sẽ báo cho N1 biết để N1 báo giá tiền, sau đó T đi giao, T đã bán ma túy giúp N1 nhiều lần, nhưng không nhớ rõ thời gian cụ thể và bán cho ai. Ngày 21/3/2023, khi T đang làm việc tại quán K3 thì N1 đến đưa cho T 01 gói nylon màu đen, bên trong có chứa ma túy loại thuốc lắc và K1, sau khi hết giờ làm thì T mang số ma túy nêu trên về cất giấu vào dưới chân tủ quần áo trong phòng trọ. Ngày 25/3/2023, có một người tên K2 (chưa rõ lai lịch) gọi điện cho T để mua 02 viên thuốc lắc và 2,5 gam Ketamine với giá 3.400.000 đồng, nhưng K2 chưa trả tiền. Số tiền T hưởng lợi từ việc bán ma túy giúp Nâu được khoảng 1.000.000 đồng.

Đến khoảng 23 giờ ngày 26/3/2023, khi Đ điều khiển xe mô tô biển số 86B2-730.68 chở T lưu thông đến trước nhà số H đường số A, phường C, thành phố T, thì Công an tuần tra phát hiện T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng xe kiểm tra, T khai nhận có sử dụng ma túy và đang cất giấu ma túy tại phòng trọ nên Công an đưa T và Đ về làm việc. Tiến hành khám xét nơi ở của T thu giữ dưới gầm tủ sắt: 01 gói nylon bên trong có 04 viên nén màu xám, 02 viên nén màu vàng, 05 gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 gói nylon bên trong có 06 gói nylon chứa tinh thể không màu.

Tại Cơ quan điều tra, Mai Thành Đ khai nhận, bản thân Đ trước khi quen T đã sử dụng ma túy, khi về sống chung với T thì Đ biết T bán ma tuý cho một số người nghiện. Vào ngày 22/3/2023, khi Đ chở T về phòng trọ thì Đ thấy T đang câm 01 bịch nylon màu đen, Đ hỏi T thì T nói bên trong có ma túy loại Ketamine và thuốc lắc, sau đó, T mở bịch nylon ra kiểm tra thì Đ đứng xem và thấy có ma túy, khi kiểm tra xong thì T giấu bịch nylon chứa ma túy vào gầm tủ sắt màu nâu trong phòng trọ. Tối ngày 25/3/2023, Đ nhìn thấy T lấy 01 viên thuốc lắc đi bán cho ai thì Đ không rõ. Đ không tố giác hành vi của T vì T là người yêu của Đ và bản thân Đ có sử dụng ma túy nên sợ bị xử phạt. Đ không tham gia phụ giúp T bán ma túy, không bàn bạc với thảo về việc bán ma túy. Kết quả kiểm tra điện thoại di động của Đ không phát hiện có nội dung liên quan đến mua bán ma túy.

Kết luận giám định số 2864/KL-KTHS ngày 03/4/2023 của Phòng K4 Công an Thành phố H kết luận:

  • - 01 gói nylon bên trong có:
    • + 04 viên nén màu xám là ma tuý ở thể rắn, loại MDMA, tổng khối lượng 1,8400 gam.
    • + 02 viên nén màu vàng là ma tuý ở thể rắn, loại MDMA, tổng khối lượng 0,7845 gam.
    • + 05 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, loại Ketamine, tổng khối lượng 4,6016 gam.
  • - 01 gói nylon bên trong có: 06 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma tuý ở thể rắn, loại Ketamine, tổng khối lượng 2,4043 gam.
  • Vật chứng thu giữ:
    • - 01 gói nylon bên trong có: 04 viên nén màu xám, là ma túy ở thể rắn, loại MDMA, có tổng khối lượng 1,8400 gam; 02 viên nén màu vàng, là ma túy ở thể rắn, loại MDMA, có tổng khối lượng 0,7845 gam; 05 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine, có tổng khối lượng 4,6016 gam.
    • - 01 gói nylon bên trong có 06 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine, có tổng khối lượng 2,4043 gam.
    • - 01 xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 86B2-730.68, kết quả xác minh xe trên do T mua tại cửa hàng X (xe đã bấm số, đang trong giai đoạn chờ cấp biển số).
    • - 01 điện thoại di động hiệu S1, màu xanh, số imei: 351662611286057, thu giữ của T.

Tại Bản Cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 20/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Ịp Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Mai Thành Đ về tội "Không tố giác tội phạm" theo khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự.

[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo Ịp Thị TMai Thành Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Ịp Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Mai Thành Đ về tội "Không tố giác tội phạm" theo khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt: bị cáo Ịp Thị T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; bị cáo M1 Thành Đạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận tội của các bị cáo Ịp Thị TMai Thành Đ phù hợp với với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định... Từ đó có đủ căn cứ xác định: Từ đầu tháng 3/2023, bị cáo Ịp Thị T phụ giúp tên N1 (không rõ lai lịch) bán ma túy, N1 đưa ma túy cho bị cáo T cất giữ, khi có người hỏi mua thì bị cáo T đi giao và được N1 trả tiền công 200.000 đồng. Ngày 21/3/2023, N1 đưa cho bị cáo T một túi đựng ma túy loại thuốc lắc và K1, bị cáo T đem về giấu dưới gầm tủ sắt trong phòng trọ. Đến ngày 25/3/2023, bị cáo T bán cho người tên K2 (không rõ lai lịch) 02 viên thuốc lắc và 2,5 gam Ketamine với giá 3.400.000 đồng. Khoảng 23 giờ ngày 26/3/2023, khi bị cáo Mai Thành Đ đang chở bị cáo T thì bị Công an nghi vấn kiểm tra, qua khám xét nơi ở, phát hiện ma túy được giấu dưới gầm tủ. Bị cáo T khai nhận hưởng lợi từ việc bán ma túy được khoảng 1.000.000 đồng. Bị cáo Đ khai nhận có tình cảm với bị cáo T nên sống chung tại phòng trọ của bị cáo T. Bị cáo Đ biết bị cáo T cất giữ ma túy để bán nhưng bị cáo không tham gia và không phụ giúp bị cáo T bán ma túy.

Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ịp Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Mai Thành Đ phạm tội "Không tố giác tội phạm" theo Điều 390 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Số ma túy thu giữ của bị cáo T dùng để bán, theo kết quả giám định là 2,6245 gam MDMA (2,6245 gam : 5 gam x 100% = 52,49%) và 7,0059 gam Ketamine (7,0059 gam : 20 gam x 100% = 35,02%), (52,49% + 35,02% = 87,51%, dưới 100%), do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo T. Bị cáo Đ biết bị cáo T có hành vi mua bán trái phép ma túy nhưng chỉ vì có quan hệ tình cảm mà không tố giác hành vi mua bán ma túy của bị cáo T, do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo Đ.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng, phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Cơ quan điều tra đã có Văn bản gửi Tổng Công ty H1 để xác minh dữ liệu của số thuê bao điện thoại do đối tượng tên N1 sử dụng nhưng đến nay chưa có kết quả. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

Đối với những người mua ma túy của bị cáo T, hiện chưa rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

[3]. Về xử lý vật chứng:

  • 01 gói niêm phong: bên trong có 04 viên nén màu xám, sau giám định còn 03 viên, khối lượng còn lại sau giám định là 1,3830 gam; 02 viên nén màu vàng, sau giám định còn một phần, khối lượng còn lại sau giám định là 0,6315 gam; tinh thể không màu, khối lượng còn lại sau giám định là 4,4194 gam.
  • 01 gói niêm phong: bên trong có tinh thể không màu, khối lượng còn lại sau giám định là 2,3190 gam.

Là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

  • 01 xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 86B2-730.68 (xe đã bấm số, đang trong giai đoạn chờ cấp biển số), bị cáo T khai nhận không sử dụng xe để đi bán ma túy, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo T.
  • 01 điện thoại di động hiệu S1, màu xanh, số imei: 351662611286057, bị cáo T thừa nhận sử dụng điện thoại vào việc liên lạc bán ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Bị cáo T khai nhận thu lợi từ việc bán ma túy số tiền 1.000.000 đồng, cần buộc bị cáo nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Ịp Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Mai Thành Đ phạm tội “ Không tố giác tội phạm”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • + Xử phạt: Bị cáo Ịp Thị T 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2023.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 390; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • + Xử phạt: Bị cáo Mai Thành Đ 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.
  • - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • + Tịch thu tiêu hủy:
    • * 01 gói niêm phong: bên trong có 04 viên nén màu xám, sau giám định còn 03 viên, khối lượng còn lại sau giám định là 1,3830 gam; 02 viên nén màu vàng, sau giám định còn một phần, khối lượng còn lại sau giám định là 0,6315 gam; tinh thể không màu, khối lượng còn lại sau giám định là 4,4194 gam.
    • * 01 gói niêm phong: bên trong có tinh thể không màu, khối lượng còn lại sau giám định là 2,3190 gam.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu S1, màu xanh, số imei: 351662611286057.
  • + Trả lại cho bị cáo Ịp Thị T: 01 xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 86B2-730.68 (xe đã bấm số, đang trong giai đoạn chờ cấp biển số).
  • (Theo Phiếu nhập kho số NK24/215C ngày 17/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
  • + Buộc bị cáo Ịp Thị T nộp số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 (Một triệu) đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP. Thủ Đức;
  • - Nhà tạm giữ CA TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Nga

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 158/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger