|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 158/2024/DS-ST.
Ngày: 15-7-2024.
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Lan.
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đình Thọ.
- Bà Nguyễn Thị Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trâm - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 280/2023/TLST-DS, ngày 06 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2024/QĐXXST-DS ngày 10/6/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 129/2024/QÐST-DS ngày 27/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thùy D, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Tổ A, KV12, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm: 1984; Địa chỉ: A T, thành phố Q, tỉnh Bình Định (tổ E, KV10, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định) (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền: Chị Lê Hồ Hương T, sinh năm: 2001 (địa chỉ: tổ B, khu V, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định), theo văn bản uỷ quyền số: 01542 quyển số 01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/5/2024 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 10 năm 2023 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tham gia tố tụng, đại diện theo uỷ quyền của chị Huỳnh Thị Thùy D là chị Lê Hồ Hương T trình bày:
Giữa chị Huỳnh Thị Thùy D và chị Nguyễn Thị Lệ H là chỗ bạn bè quen biết nhau nên từ năm 2021 đến năm 2023 chị D có cho chị H mượn tiền nhiều lần, mỗi lần mượn tiền đều viết giấy nợ, mục đích chị H mượn tiền để buôn bán làm ăn. Đến ngày 16/6/2023 thì hai bên chốt nợ, theo đó chị H còn nợ chị D tổng số tiền là 313.000.000đồng (ba trăm mười ba triệu đồng), chị H có viết giấy mượn tiền cho chị D. Khi viết giấy mượn tiền, hai bên không thoả thuận lãi suất nhưng có thoả thuận miệng là 01 tháng sau sẽ trả. Đến hạn trả nợ, chị D đòi nhiều lần nhưng chị H trốn tránh, không trả nợ cho chị D.
Nay chị Huỳnh Thị Thùy D yêu cầu chị Nguyễn Thị Lệ H phải có nghĩa vụ trả cho chị số tiền gốc là 313.000.000 (ba trăm mười ba triệu) đồng và yêu cầu trả lãi theo quy định pháp luật, thời gian tính lãi từ ngày chị D nộp đơn khởi kiện tại Toà cho đến khi trả hết nợ.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 17 tháng 5 năm 2024, bị đơn chị Nguyễn Thị Lệ H trình bày:
Giữa chị và chị Huỳnh Thị Thùy D là chỗ bạn bè quen biết nhau nên từ năm 2021 đến năm 2023 chị có mượn tiền của chị D nhiều lần, mỗi lần mượn tiền của chị D chị đều viết giấy nợ, đến ngày 16/6/2023 hai bên chốt lại số nợ, theo đó chị còn nợ chị D tổng số tiền gốc và lãi là 313.000.000đồng (ba trăm mười ba triệu đồng), trong đó bao nhiêu tiền gốc, bao nhiêu tiền lãi thì chị không nhớ.
Nay chị thống nhất còn nợ chị D là 313.000.000đồng (ba trăm mười ba triệu đồng), nhưng hiện nay chị rất khó khăn, còn phải nuôi con nhỏ, chị xin chị D cho chị thêm một khoản thời gian nữa chị sẽ trả đầy đủ số tiền còn nợ cho chị D, còn tiền lãi thì chị xin chị D không trả.
+ Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp.Quy Nhơn phát biểu việc tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo qui định của pháp luật tố tụng Dân sự. Tuy nhiên Thẩm phán còn vi phạm thời hạn xét xử.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn, đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70 và 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 463, 466, 468 và 469 Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc chị Nguyễn Thị Lệ H phải có nghĩa vụ trả cho chị Huỳnh Thị Thùy D số tiền gốc là 313.000.000đồng và tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, thời gian tính lãi từ ngày Toà án nhân được đơn khởi kiện của chị D cho đến khi trả xong nợ.
- Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UB TVQH14 ngày 30/12/2016, chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào nội dung tranh chấp của các đương sự, HĐXX xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn. Bị đơn chị Nguyễn Thị Lệ H được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án: Chị Huỳnh Thị Thùy D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Nguyễn Thị Lệ H phải có nghĩa vụ trả cho chị số tiền vốn là 313.000.000đồng (ba trăm mười ba triệu đồng) và yêu cầu chị D phải có nghĩa vụ trả tiền lãi cho chị, lãi suất theo quy định pháp luật, thời gian tính lãi từ ngày Toà án nhận được đơn khởi kiện của chị D đến ngày xét xử. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là giấy mượn tiền có chữ ký, chữ viết của chị Nguyễn Thị Lệ H mà chị D đã nộp tại tòa.
Tòa xét: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay tài sản giao tài sản cho bên vay, khi đến hạn trả nợ bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Căn cứ vào giấy mượn tiền được hai bên xác lập đều không thể hiện lãi suất và không thể hiện thời hạn mượn tiền. Tuy nhiên trong quá trình làm việc, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có trình bày về thời hạn mượn tiền hai bên có thoả thuận miệng là sau 01 tháng kể từ ngày viết giấy mượn tiền là ngày 16/6/2023 thì chị H phải có nghĩa vụ trả nợ cho chị D. Tuy nhiên đến hạn trả nợ, chị D đã nhiều lần yêu cầu chị H trả tiền nhưng chị H cố tình không trả, như vậy chị H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền.
[3] Về tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Trong quá trình làm việc, chị D yêu cầu chị H phải có trách nhiệm trả tiền lãi cho chị, lãi suất theo quy định pháp luật, thời gian tính lãi kể từ ngày viết giấy nợ là ngày 16/6/2023 cho đến ngày xét xử. Tuy nhiên tại phiên toà hôm nay đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu
cầu chị H phải có nghĩa vụ trả lãi theo quy định pháp luật, thời gian tính lãi từ ngày Toà án nhận được đơn khởi kiện của chị D đến ngày xét xử.
Toà xét: Hợp đồng vay tài sản giữa chị D và chị H là hợp đồng vay có kỳ hạn (thoả thuận miệng một tháng). Đến hạn trả nợ, chị D đòi nhiều lần nhưng chị H không trả là vi phạm khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Nay chị D yêu cầu chị H phải có trách nhiệm trả lãi theo quy định pháp luật là phù hợp, tiền lãi được tính từ ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện của chị là ngày 30/10/2023 (theo dấu công văn đến của Toà án) đến ngày xét xử (ngày 15/7/2024).
Căn cứ vào khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tiền lãi được tính cụ thể như sau:
- Từ ngày 30/10/2023 (ngày nhận đơn) đến ngày 15/7/2024 (ngày xét xử) là 8 tháng 15 ngày: (313.000.000đồng x 0,833%/tháng) x 8 tháng 15 ngày = 22.161.965 đồng (hai mươi hai triệu, một trăm sáu mươi mốt nghìn, chín trăm sáu mươi lăm đồng).
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị D, buộc chị Nguyễn Thị Lệ H phải có nghĩa vụ trả cho chị Huỳnh Thị Thùy D số tiền 335.161.965 đồng làm tròn số 335.162.000đồng (ba trăm ba mươi lăm triệu, một trăm sáu mươi hai nghìn đồng), trong đó tiền gốc là 313.000.000 đồng; tiền lãi là 22.162.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu phù hợp nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
[5] Về án phí Dân sự sơ thẩm: Chị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; chị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Điều 463, khoản 1, Điều 466, 468 và 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên xử :
1- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thùy D.
1.1 Buộc chị Nguyễn Thị Lệ H phải có nghĩa vụ trả cho chị Huỳnh Thị Thùy D số tiền 335.162.000 (ba trăm ba mươi lăm triệu, một trăm sáu mươi hai nghìn) đồng.
2- Án phí Dân sự sơ thẩm:
- Chị Nguyễn Thị Lệ H phải chịu 16.758.000 (mười sáu triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về tiền tạm ứng án phí: H1 lại cho chị Huỳnh Thị Thùy D 7.825.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0000029 ngày 03/11/2023.
3- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn chị Nguyễn Thị Lệ H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
4- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
4.1- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
4.2- Trường hợp bán án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Ngọc Lan |
Bản án số 158/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 158/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HUỲNH THỊ THÙY D - NGUYỄN THỊ LỆ H
