TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 158/2024/HS-ST Ngày: 11 - 7 -2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Khanh.
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Dũng – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 167/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024, trong đó:
- Điểm cầu trung tâm: 94/7 đường Quang Trung, thị trấn Hóc Môn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Điểm cầu thành phần: 64 đường Quang Trung, thị trấn Hóc Môn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (Phòng xét xử trực tuyến – Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh).
Đối với bị cáo:
Nguyễn Thành N; sinh năm: 1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: A ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Mua bán ve chai; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N2 (chết) và bà: Lê Thị T (chết); tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tỉnh Bình Dương xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 37/2017/HS-ST (đã chấp hành xong: Hình phạt chính vào ngày 09/6/2018, các quyết định khác của bản án vào năm 2018) (đã xóa tiền án); bị bắt giữ ngày: 19/10/2023.
(Bị cáo có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Nguyễn Tuyết M – Sinh năm: 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ: 223/116 khu phố 2, phường Quang Vinh, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:
Người tiến hành tố tụng:
- Ông Trần Văn Phú – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn.
- Ông Nguyễn Hữu Nguyên – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 19/10/2023, tại đầu hẻm 89, đường TTT6, Tổ 169, ấp Đông 1, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện Hóc Môn phối hợp Công an xã Thới Tam Thôn tuần tra phát hiện Nguyễn Thành N điều khiển xe máy biển số 54S4-8449 có biểu hiện nghi vấn, nên tổ công tác yêu cầu dừng xe kiểm tra; qua kiểm tra phát hiện và thu giữ: 01 gói nylon bên trong có 76 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu chất bột màu trắng để bên trong túi bên phải của áo khoác đang mặc, theo N khai đây là Heroine mua và cất giấu để sử dụng cho bản thân. Vụ việc được Công an xã Thới Tam Thôn lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn điều tra, làm rõ.
Tại Kết luận giám định số 11800 ngày 27/10/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
Bột màu trắng trong 76 đoạn ống nhựa đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 5,4148g (năm phẩy bốn một bốn tám gam), loại Heroine (Heroin).
Quá trình điều tra xác định:
Nguyễn Thành N là đối tượng nghiện ma túy nên thường mua ma túy của một đối tượng (không rõ lai lịch) tại khu vực cầu Bến Phân thuộc Phường 13, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh về cất giấu để sử dụng. Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 19/10/2023, do cần ma túy sử dụng nên N một mình điều khiển xe máy biển số: 54S4-8449 đến khu vực cầu Bến Phân thuộc Phường 13, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh rồi gọi đến số điện thoại 0922.848.xxx, hỏi mua 3.600.000 đồng ma túy loại Heroin, đối tượng này giao cho N rồi điều khiển xe gắn máy về nhà; sau đó bị Công an kiểm tra và bắt giữ như đã nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã quyết định khởi tố điều tra đối với Nguyễn Thành N về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với đối tượng bán ma túy cho N, chưa xác định được lai lịch; cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn tiếp tục truy xét, làm rõ và xử lý sau.
Vật chứng vụ án:
Đối với: 01 gói niêm phong ghi vụ 2293/2023 (11800) bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thành N và hình dấu Công an xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 xe gắn máy biển số: 54S4 – 8449 có số máy: VME150FMG-B002427 qua giám định bị rỉ sét, cắt hàn mất số, không xác định được số nguyên thủy, số khung: không có qua giám định bị rỉ sét, cắt hàn mất số, không xác định được số nguyên thủy, kết quả xác minh số máy là của xe máy biển số 60N404371, số khung RMEDCGKME6A002427 do bà Nguyễn Tuyết M đứng tên chủ sở hữu, theo bà M bán xe cho người khác nhưng không làm thủ tục sang tên, không nhớ họ tên, địa chỉ người mua, đối với biển số 54S4-8449 là số đăng ký của chiếc gắn máy khác, về phía N khai mua xe của người khác nhưng không làm giấy tờ mua bán, không biết nhân thân, lai lịch người bán; 01 điện thoại di động hiệu Philips màu đen có số sim 0389391311, N dùng liên lạc mua ma túy; 01 áo khoác, N cất giấu ma túy để đem về sử dụng; Công an huyện Hóc Môn đã tạm giữ lại.
Tại Cáo trạng số 171/CT-VKS-H.HM ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Nguyễn Thành N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản
cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành N: từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào Nghị quyết số 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến; ngày 04/6/2024 Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã có văn bản thông báo về việc tổ chức phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; ngày 11/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã có văn bản số 613/CV-VKS-HS về việc thống nhất tổ chức phiên tòa trực tuyến đối với vụ án. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn quyết định xét xử trực tuyến sơ thẩm vụ án hình sự này theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự và Thông tư liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 15/12/2021 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tổ chức phiên tòa trực tuyến.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình; qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của người làm chứng, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, bản kết luận giám định về ma túy, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Thành N cất giữ trái phép: 5,4148g loại Heroine, nhằm mục đích để sử dụng, chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ thì đó là chất ma túy ở thể rắn; do vậy, bị cáo Nguyễn Thành N bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác; trong khi chính quyền nhân dân các cấp đang ra sức thực hiện mục tiêu 3 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do đã xóa án tích.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về xử lý vật chứng:
Đối với: 01 gói niêm phong số vụ 2293/2023 (11800) bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thành N (người bị bắt) và hình dấu Công an xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, bên trong là ma túy còn lại sau giám định và 01 biển số 54S4-8449; là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy.
Đối với: 01 chiếc xe (loại xe: Hai bánh, nhãn hiệu: Wave a (Wave Alpha), số loại: /, màu sơn: Xanh, dung tích xi lanh: /, số khung: bị rỉ sét, cắt hàn mất số, không xác định được số nguyên thủy, số máy: bị rỉ sét, cắt hàn mất số, không xác định được số nguyên thủy), là phương tiện dùng vào việc phạm tội và lưu hành bất hợp pháp và 01 điện thoại di động hiệu Philips màu đen có số sim 0389391311 là phương tiện dùng vào việc phạm tội; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với: 01 áo khoác, không đáng giá trị; vậy căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí sơ thẩm:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2023.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N.
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong số vụ 2293/2023 (11800) bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thành N (người bị bắt) và hình dấu Công an xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 biển số 54S4-8449.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe (loại xe: Hai bánh, nhãn hiệu: Wave a (Wave Alpha), số loại: /, màu sơn: Xanh, dung tích xi lanh: /, số khung: bị rỉ sét, cắt hàn mất số, không xác định được số nguyên thủy, số máy: bị rỉ sét, cắt hàn mất số, không xác định được số nguyên thủy), 01 điện thoại di động hiệu Philips màu đen có số sim 0389391311.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy 01 áo khoác.
(Tình trạng vật chứng và tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/5/2024 giữa Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc:
Bị cáo N chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án; đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Triệu Luật |
Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 158/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
