Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2024/HS-ST

Ngày: 03-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thắm;
  2. Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/HSST-QĐ ngày 05 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C

(tên gọi khác: Chung B), sinh năm 1986; Hộ khẩu thường trú: Thôn E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; hiện đang chấp hành án tại: Trại giam Đ, tỉnh Đắk Lắk – Cục C1, Bộ C2; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Huỳnh Thị H; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H1 (đã ly hôn), có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền sự: không; Tiền án như sau:

- Ngày 15/9/2009, bị cáo Nguyễn Văn C bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện vào ngày 25/6/2009. Nguyễn Văn C chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25/02/2010, chấp hành xong án phí ngày 13/9/2022;

- Ngày 30/11/2010, bị cáo Nguyễn Văn C bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản” đối với hành vi thực hiện vào ngày 11/7/2010. Nguyễn Văn C chấp hành hình phạt tù vào ngày 12/6/2017 thì chấp hành xong, đến nay chưa chấp hành xong phần án phí và hình phạt bổ sung.

Nhân thân:

- Ngày 03/10/2018, Nguyễn Văn C bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện vào các ngày 01/3/2018 và 23/3/2018. Nguyễn Văn C chấp hành hình phạt tại Trại giam P đến ngày 24/4/2021 thì chấp hành xong, chưa chấp hành xong phần án phí và bồi thường dân sự.

- Ngày 07/3/2022, Nguyễn Văn C bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện vào ngày 30/9/2021. Nguyễn Văn C hiện đang chấp hành hình phạt tại Trại giam Đ.

Hiện bị cáo Nguyễn Văn C đang chấp hành án tại Trại giam Đ, tỉnh Đắk Lắk – Cục C1, Bộ C2 (theo Bản án số 12/2022/HS-ST ngày 07/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bạch Văn M, sinh năm 2000; Trú tại: khu phố H, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; Hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn C và Trần Hữu T (sinh năm 1990, nơi thường trú: Thôn F, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước) và Bạch Văn M là bạn bè quen biết nhau.

Ngày 05/01/2018, C từ Bình Phước đến thuê phòng số 13, nhà nghỉ D, thuộc khu phố D, phường T, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương của anh Trương Ngọc T1 (sinh năm 1982, nơi thường trú: ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu) để ở.

Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 08/01/2018, anh M đang ở phòng trọ số 3, nhà trọ anh H2, thuộc khu phố C, phường T thì C và T đến chơi. Khoảng 15 phút sau, C rủ anh M đến phòng của C thuê ở để uống rượu, rồi C và T đi về phòng của C trước. Khoảng 18 giờ cùng ngày, anh M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, biển số 47E1-331.56 đến nhà nghỉ D, dựng xe ở sảnh rồi đi vào phòng 13 gặp C và T đang ngồi chơi ở đây. Lúc này, C nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của anh M đem bán lấy tiền tiêu xài nên nói dối với anh M là cho C mượn xe đi mua mồi về uống rượu. Anh M tin tưởng nên đồng ý và giao chìa khóa xe mô tô biển số 47E1-331.56 cho C đi ra lấy xe đi. Khi ra đến quầy của nhà nghỉ, C trả tiền phòng để lấy lại giấy tờ tùy thân rồi lấy xe mô tô của anh M điều khiển chạy đến khu vực thành phố mới Bình Dương, thuộc phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương chơi. Đến ngày 09/01/2018, C điều khiển xe mô tô biển số 47E1-331.56 đi đến huyện B, tỉnh Bình Phước rồi bán xe cho 01 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch được số tiền 14.000.000 đồng. Tiền có được, C đã tiêu xài hết.

Đối với anh Bạch Công M1, khoảng 30 phút sau khi C mượn xe đi, anh M1 và T gọi điện thoại cho C thì C nói chở bạn gái đi công việc khoảng 30 phút nữa sẽ về trả xe. Tuy nhiên, sau đó không thấy C quay lại, anh M1 và T đi ra quầy nhà nghỉ 405 hỏi anh T1 thì được biết C đã thanh toán tiền và trả phòng.

Đến ngày 09/01/2018, anh M1 đến Công an phường T tố giác C về hành vi chiếm đoạt xe mô tô của mình. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B (nay là thành phố B) giải quyết theo thẩm quyền.

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 08/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã B (nay là thành phố B), kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, biển số 47E1-331.56 trị giá 46.800.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Bạch Văn M yêu cầu Nguyễn Văn C phải bồi thường giá trị xe mô tô biển số 47E1-331.56 theo kết luận của Hội đồng định giá. C đồng ý bồi thường nhưng hiện tại không có tiền.

Tại Bản Cáo trạng 132/CT-VKSBC ngày 11/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.

+ Về trách nhiệm dân sự đề nghị tuyên buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Bạch Văn M số tiền 46.800.000 đồng (bốn mươi sáu triệu, tám trăm nghìn đồng).

+ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được nên không yêu cầu xem xét.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả và thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an thành phố B, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 08/01/2018, tại phòng số 13, nhà nghỉ D, thuộc khu phố D, phường T, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương, bị cáo đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, giả vờ hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, biển số 47E1-331.56 của anh Bạch Văn M để đi mua đồ ăn đem về cùng nhậu chung với anh M và T. Khi được anh M tin tưởng giao xe cho, bị cáo đã đem xe đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 150, biển số 47E1-331.56, trị giá 46.800.000 đồng. Bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng mô tả. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, Bản Cáo trạng số 132/CT-VKSBC ngày 11/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức tham lam, liều lĩnh và xem thường pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt gồm: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Do đó, bị cáo hưởng thêm tình tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.

[6] Về tổng hợp hình phạt: Ngày 07/3/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xử phạt 04 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 12/2022/HS-ST. Vì vậy cần tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

[7] Xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Bạch Văn M yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị xe mô tô biển số 47E1-331.56, trị giá 46.800.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại toàn bộ giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Xét thấy, việc bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại là quyền quyết định, định đoạt của bị cáo và không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận và cần buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 46.800.000 đồng.

[9] Xử lý vật chứng: Vật chứng trong vụ án là xe mô tô biển số 47E1-331.56 không thu hồi được nên không có căn cứ xử lý.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

  • - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • - Tổng hợp hình phạt 04 (bốn) năm tù tại Bản án số 12/2022/HS-ST ngày 07/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước. Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 12/10/2021.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ các Điều 584, 585 và 589 Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải bồi thường cho anh Bạch Văn M số tiền 46.800.000 đồng (bốn mươi sáu triệu, tám trăm nghìn đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án xong.

4. Về xử lý vật chứng: Không thu hồi được nên không đặt ra xem xét.

5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và chịu 2.340.000 đồng (hai triệu, ba trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án (03/7/2024).

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - CA thành phố Bến Cát;
  • - Trại giam Đắk Trung, tỉnh Đắk Lắk;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đậu Thị Thảo

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 158/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger