|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:158/2024/HS-ST |
Ngày: 02-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Hồng
- 2. Bà Nguyễn Thị Biên
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Đĩnh – Kiểm sát viên.
Ngày 02/8/2024, tại điểm cầu thành phần Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2024/HSST ngày 20/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST – HS ngày 02/7/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lường Văn C, sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; Nơi ở: Thôn R, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lường Văn T, sinh năm 1969 và bà Lò Thị C1, sinh năm 1965; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/05/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B và có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Lò Văn T1, sinh năm 2005; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; Nơi ở: Thôn R, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lò Văn T2, sinh năm 1979 và bà Lường Thị L, sinh năm 1984; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B và có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn B.
1
Địa chỉ: Số nhà C, đường H, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bá C2 – Chức vụ: Giám đốc
Đại diện theo uỷ quyền: Anh Nguyễn Thế T3, sinh năm 1983 (Xin xét xử vắng mặt)
HKTT: Thôn Cao Thọ, xã Vạn Ninh, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
Nơi ở: Thôn Riễu, xã Dĩnh Trì, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Dương Ngọc K, sinh năm 1972 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà B, ngõ A, đường X, tổ H, phường N, T, tỉnh Bắc Giang.
2. Anh Vũ Minh Đ, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà E, đường X, tổ dân phố N, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lường Văn C, sinh năm 1993 và Lò Văn T1, sinh năm 2005 đều trú tại Bản T, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên thuê trọ tại thôn R, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang làm công nhân xây dựng tại công trường xây dựng khu đô thị trên địa bàn thôn R, xã D, thành phố B. Quá trình làm việc tại công trường, C nhìn thấy có 02 cuộn dây cáp điện lõi bằng đồng (loại 0,6/1KV CXV 3x16+1x10 SQMM TCVN 5935 CABLE PANAPON CONG TY KOREA VINA, bọc vỏ bằng nhựa màu đen) của Công ty TNHH B để ở trước cửa kho vật tư đi thi công nên nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, Lường Văn C đi bộ từ nhà trọ đến công trường để trộm cắp cuộn dây cáp điện. Quan sát trong công trường thấy không có người, C đi đến vị trí để 02 cuộn dây cáp điện, dùng hai tay nhấc 01 cuộn dây cáp điện đặt lên vai phải rồi vác ra cất giấu ở hố ga làm bằng bê tông tại bãi đất trống cách nhà trọ khoảng 20m. C đi về nhà trọ lấy bao tải dứa để đựng cuộn dây cáp điện. C gặp Lò Văn T1 ở trong phòng trọ nên nói với T1: “mặc áo vào xuống đây anh bảo tý”, ý C là rủ T1 đi cùng vận chuyển cuộn dây cáp điện đã trộm cắp trước đó để đi bán. Sau đó, C đi ra vị trí cất giấu cuộn dây cáp điện, cho cuộn dây cáp điện vào bao tải dứa rồi đứng chờ. Khoảng 05 phút sau, T1 đi đến thì C chỉ tay vào bao tải dứa đựng cuộn dây cáp điện và bảo T1 mang dây cáp điện đi bán rồi chia nhau tiền. Thương biết cuộn dây cáp điện để trong bao tải dứa là do C trộm cắp mà có nhưng được C hứa sẽ chia tiền nên đồng ý đi bán. T1 đi bộ đến khu vực cây xăng K gặp anh Dương Ngọc K, sinh năm 1972, trú tại số nhà B, ngõ A, đường X, tổ H, phường N,
2
thành phố B làm nghề xe ôm. T1 thuê anh K đi đến chỗ C chờ. Chuẩn bê cuộn dây cáp điện để lên yên xe tại vị trí giữa anh K và T1 ngồi. T1 bảo anh K chở đến địa điểm thu mua sắt vụn. Anh K điều khiển xe chở T1 và cuộn dây cáp điện đến cửa hàng thu mua phế liệu ở số E, đường X, phường X, thành phố B. Thương bê bao tải dứa đựng cuộn dây cáp điện vào trong cửa hàng và đặt vấn đề bán cho chủ cửa hàng phế liệu. Chủ cửa hàng phế liệu xem cuộn dây cáp điện và nghi ngờ do trộm cắp mà có nên gọi điện thoại báo cho Công an phường X. Sau đó, Công an phường X đến lập biên bản kiểm soát và tạm giữ vật chứng, tài sản gồm: 01 cuộn dây cáp điện, lõi bằng đồng, loại 0,6/1KV CXV 3x16+1x10 SQMM TCVN 5935 CABLE PANAPON CONG TY KOREA VINA, bọc vỏ bằng nhựa màu đen, dài 48m, khối lượng 31 kg và 01 bao tải dứa màu trắng.
Ngày 04/5/2024, Công an phường X bàn giao Lò Văn T1 cùng vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết. Tại Cơ quan điều tra, T1 đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp 01 căn cước công dân mang tên Lò Văn T1.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra triệu tập Lường Văn C đến làm việc thì C xin đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp 01 căn cước công dân mang tên Lường Văn C.
Kết luận định giá tài sản số 86/KL-HĐĐG ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 cuộn dây cáp điện, lõi bằng đồng, loại 0,6/1KV CXV 3x16+1x10 SQMM TCVN 5935 CABLE PANAPON CONG TY KOREA VINA, bọc vỏ bằng nhựa màu đen dài 48m, khối lượng 31 kg đã qua sử dụng, mua mới tháng 6/2023, có giá trị tại thời điểm ngày 03/5/2024 là 4.320.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 142/CT-VKS ngày 04/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lường Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và bị cáo Lò Văn T1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Các bị cáo Lường Văn C và Lò Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là không oan, các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, các bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo C và T1 xác nhận khi ra đầu thú các bị cáo đều giao nộp căn cước công dân mang tên mình. Đến nay các bị cáo đề nghị được xin lại căn cước công dân. Về kết luận định giá, các bị cáo không có ý kiến gì.
3
Đại diện theo uỷ quyền của bị hại anh Nguyễn Thế T3 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được Hội đồng xét xử công bố lời khai. Các bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lường Văn C từ 6 đến 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 04/5/2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn T1 từ 6 đến 9 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 04/5/2024.
Do các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không có tài sản riêng, hiện đang bị tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thế T3 là đại diện theo ủy quyền của bị hại không đề nghị bị cáo C và T1 phải bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
- - Về xử lí vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- +Trả lại bị cáo Lường Văn C 01 căn cước công dân mang tên Lường Văn C.
- +Trả lại bị cáo Lò Văn T1 01 căn cước công dân mang tên Lò Văn T1.
- +Tịch thu tiêu huỷ 01 bao tải dứa màu trắng.
Ngoài ra, cần áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo, bị hại, người liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Về việc vắng mặt đại diện theo uỷ quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền của bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, họ đã có lời khai trong hồ sơ nên việc vắng mặt họ không ảnh hưởng tới kết quả xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt đại diện theo uỷ quyền của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ.
[3] Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Lường Văn C và bị cáo Lò Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình gây ra. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, Lường Văn C trộm cắp 01 cuộn dây cáp điện, lõi bằng đồng, loại 0,6/1KV CXV 3x16+1x10 SQMM TCVN 5935 CABLE PANAPON CONG TY KOREA VINA, dài 48m, khối lượng 31 kg trị giá 4.320.000 đồng của Công ty TNHH B để tại công trường xây dựng tại thôn R, xã D, thành phố B sau đó đem cuộn dây điện đi cất giấu để bán. Sau khi trộm cắp cuộn dây cáp điện, C bảo Lò Văn T1 mang đi bán lấy tiền chia nhau. Thương biết rõ cuộn dây cáp điện là tài sản do C trộm cắp mà có nhưng đồng ý mang đi tiêu thụ. Thương thuê xe ôm chở cuộn dây cáp điện đến cửa hàng thu mua phế liệu đặt vấn đề bán nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phường X phát hiện, thu giữ vật chứng. Hành vi của T1 thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
[4] Như vậy, hành vi của bị cáo Lường Văn C đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo 01 lần thực hiện hành vi phạm tội với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 4.320.000 đồng. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
Hành vi của bị cáo Lò Văn T1 đã cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bị cáo đã thực hiện đầy đủ hành vi để tiêu thụ tài sản nhưng vì
5
nguyên nhân khách quan (chủ cửa hàng phát hiện) nên bị cáo không tiêu thụ được tài sản, hành vi của bị cáo chưa đạt về hậu quả nhưng hoàn thành về hành vi theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo mặc dù ít nghiêm trọng xong đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[6] Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa bị xét xử và xử phạt vi phạm hành chính lần nào.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội các bị cáo tự nguyện ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo.
[9] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo đều thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu làm gì chính quyền địa phương không nắm được. Do vậy, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục các bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
[10] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, không có tài sản riêng và hiện đang bị tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và cần áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Do các bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo uỷ quyền của bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp. Đến nay đại diện theo uỷ quyền của bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.
6
[12] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- + Trả lại cho bị cáo C 01 căn cước công dân mang tên Lường Văn C3. Trả lại cho bị cáo T1 01 căn cước công dân mang tên Lò Văn T1. Đây là tài sản cá nhân của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 bao tơ dứa màu trắng không còn giá trị sử dụng.
[13] Đối với anh Dương Ngọc K là người chở T1 mang đoạn dây cáp điện đi bán nhưng anh K không biết cuộn dây cáp điện trên là trộm cắp được mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
[14] Ngoài ra cần áp dụng điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo do các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số sống ở cùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- 1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- 1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- 2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- + Trả lại cho bị cáo C 01 căn cước công dân mang tên Lường Văn C3
- + Trả lại cho bị cáo T1 01 căn cước công dân mang tên Lò Văn T1
- + Tịch thu tiêu huỷ 01 bao tơ dứa màu trắng.
- 3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Xử phạt bị cáo Lường Văn C 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 04/5/2024.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T1 6 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 04/5/2024.
7
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Báo cho các bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lương Thị Thanh Quyên |
8
Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 158/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn C phạm tội Trộm cắp tài sản
