TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 158/2025/HS-ST Ngày: 30/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hiền
Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Nhân
Bà Phạm Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2025/TLST-HS ngày 16/6/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2024/QĐXXST-HS ngày 16/6/2025 đối với các bị cáo:
- Bùi Thị ĐôngyềHuyeen; sinh ngày: 01/10/1983, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ E, khu E, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn C (đã chết) và bà Phạm Thị T (đã chết); có chồng là Bùi Xuân S và có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: chưa; bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 26/4/2025 đến ngày 05/5/2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; hiện tại ngoại; có mặt.
- Phạm Văn PhươngyềHuyeen; sinh ngày: 28/11/1977, tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: thôn K, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H và bà Phạm Thị S1; có vợ là Đoàn Thị Thu H1 và có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: chưa; bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 26/4/2025 đến ngày 05/5/2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; hiện tại ngoại; có mặt.
- Nguyễn Văn LuânyềHuyeen; sinh ngày: 10/10/1988, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị X; có vợ là Hoàng Thị G và có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: chưa; bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 26/4/2025 đến ngày 05/5/2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; hiện tại ngoại; có mặt.
- Trần Văn PhongyềHuyeen; sinh ngày: 31/12/1996, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn Đ, xã D, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân H3 và bà Hoàng Thị P; có vợ là Bùi Thị H4 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: chưa; bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 26/4/2025 đến ngày 05/5/2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; hiện tại ngoại; có mặt.
- Phạm Đức TrọngyềHuyeen; sinh ngày: 08/12/1972, tại tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân S2 (đã chết) và bà Phạm Thị H5; có vợ là Hoàng Thị N (đã ly hôn) và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: chưa; bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 26/4/2025 đến ngày 05/5/2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; hiện tại ngoại; có mặt.
- Lương Văn QuangyềHuyeen; sinh ngày: 05/8/1997, tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: thôn N, xã K, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn C1 và bà Lê Thị T1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 26/4/2025 đến ngày 05/5/2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; hiện tại ngoại; có mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Trương Minh T2, sinh năm: 1984; vắng mặt.
- Chị Bùi Thị H6, sinh năm: 1975; vắng mặt.
* Người chứng kiến: Ông Phạm Văn Q; sinh năm: 1985; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Thị Đ, Nguyễn Văn L, Trần Văn P1, Lương Văn Q1 và anh Trương Minh T2 đều là nhân viên làm việc trên tàu du lịch “Stella Luxury”, biển số QN-9298 của chị Bùi Thị H6 (sinh năm 1975), neo đậu tại Cảng du lịch Quốc tế T, thuộc phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Đ còn quen biết Phạm Văn P2 và Phạm Đức T3 là nhân viên các tàu du lịch khác thường neo đậu gần tàu của chị H6. Vào khoảng 09 giờ ngày 26/4/2025, khi Đ đang ở trên tàu QN-9298 cùng L, P1, Q1 thì có P2 đi từ tàu của mình sang chơi; lúc này chị H6 không ở trên tàu. Thấy vậy, Đ rủ P2 đánh bạc, được thua bằng tiền, dưới hình thức chơi “ba cây”, thì P2 đồng ý. Đ đi lấy 01 bộ bài tú lơ khơ do Đ mua từ trước để bên trong ngăn kéo tủ kê tivi tại tầng 1 của tàu, bỏ hết các quân 10, J, Q, K, rồi cùng P2 ngồi xuống sập gỗ tầng 1 đánh bạc. P1, L đứng cạnh thấy vậy cũng ngồi xuống chơi cùng. Đến khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, T3 đi từ tàu của mình sang tàu của chị H6 chơi, thấy có đánh bạc thì cũng chơi cùng. Một lúc sau, Q1 và anh T2 đang làm công việc dọn dẹp trên tàu đi qua tầng 1 thấy cả nhóm đang đánh bạc thì Q1 vào chơi cùng, nhưng không cầm bài riêng mà ké cửa bài của Đ để đánh bạc, còn anh T2 chỉ ngồi xem.
Về cách thức đánh bạc: người chơi sử dụng bộ bài 36 quân bài từ át tới 9; quân bài át tính là 01 điểm, còn những quân bài còn lại tính số điểm tương ứng với số ghi trên quân bài. Số tiền đặt cược mỗi ván thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là 100.000 đồng. Khi chơi mỗi người sẽ được “người cầm C2” chia cho 03 quân bài để tự tính điểm, điểm của 03 quân bài tính theo thang điểm 10 (ví dụ tổng số điểm 03 quân bài là 26 sẽ là 06 điểm), nếu số điểm bằng nhau thì sẽ xét các chất trong các quân bài, thứ tự từ Rô, C3, T4, B; sau đó so sách điểm với “người cầm Chương”; nếu ai có số điểm lớn hơn “người cầm Chương” thì thắng và được nhận số tiền bằng số tiền đã cược, còn điểm thấp hơn “người cầm C2” sẽ thua và mất số tiền đã cược; nếu ai được 10 điểm thì sẽ thắng gấp 02 lần tiền và được cầm “Chương” ván tiếp theo.
Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả nhóm đang đánh bạc thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q bắt quả tang, thu giữ tại vị trí trước mặt Đ, P2, L, P1, T3, Q1 ngồi số tiền 9.790.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân bài. Về vị trí ngồi đánh bạc theo chiều kim đồng hồ lần lượt là Đ, Q1, L, P2, T3, P1; khi đánh bạc thì Đ là “người cầm C2”.
Bản Cáo trạng số 3478/CT-VKSHL ngày 15/6/2025, Viện kiểm sát nhân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh truy tố các bị cáo Bùi Thị Đ, Nguyễn Văn L, Trần Văn P1, Phạm Văn P2, Phạm Đức T3 và Lương Văn Q1, về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bùi Thị Đ, Nguyễn Văn L, Trần Văn P1, Phạm Văn P2 Phạm Đức T3 và Lương Văn Q1 đều khai nhận hành vi phạm tội của mình. Về số tiền đánh bạc: Đ bỏ ra 2.600.000 đồng đánh bạc, thắng 1.200.000 đồng, bị thu giữ 3.800.000 đồng; P2 bỏ ra 1.880.000 đồng đánh bạc, thắng 150.000 đồng, bị thu giữ 2.030.000 đồng; P1 bỏ ra 2.660.000 đồng đánh bạc, thua 1.610.000 đồng, bị thu giữ 1.050.000 đồng; L bỏ ra 2.250.000 đồng đánh bạc, thắng 660.000 đồng, bị thu giữ 2.910.000 đồng; T3 bỏ ra 250.000 đồng đánh bạc, thua hết; Q1 bỏ ra 150.000 đồng đánh bạc, thua hết. Ngoài ra, các bị cáo không bị thu giữ tài sản gì khác.
* Những người làm chứng khai:
Anh Trương Minh T2 khai: Anh là nhân viên thợ máy tại tàu Stella Luxury Cruise biển QN 9298. Vào 10 giờ ngày 26/4/2025, anh thấy các anh chị Bùi Thị Đ, Nguyễn Văn L, Trần Văn P1, Phạm Đức T3, Lương Văn Q1 và Phạm Văn P2 ngồi chơi đánh bạc bằng hình thức ba cây được thua bằng tiền. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày bị công an bắt quả tang, thu giữ số tiền 9.790.000 đồng và 01 bộ tú lơ khơ.
Chị Bùi Thị H6: tàu Stella Luxury Cruise biển QN 9298 là tài sản chung của chị Bùi Thị Đ và anh Bùi Xuân S. Ngày 20/4/2025, vợ chồng chị Đ đã bán tàu cho chị. Chị thuê chị Đ làm thu ngân và quản lý nhân viên trên tàu. Ngày 26/4/2025, chị không ở tàu nên không biết việc chị Đ và các anh Nguyễn Văn L, Trần Văn P1, Phạm Đức T3, Lương Văn Q1 và Phạm Văn P2 đánh bạc trên tàu.
* Người chứng kiến ông Phạm Quang Q2 khai: khoảng 10 giờ 30 phút ngày 26/4/2025, ông được Cơ quan công an mời chứng kiến việc bắt quả tang 06 người đang có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền trên tàu Stella Luxury Cruise biển QN 9298 neo đậu tại  Cảng khách Quốc tế T thuộc phường T, thành phố H. Cơ quan Công an thu giữ số tiền 9.790.000 đồng và 01 bộ tú lơ khơ. Những người tham gia đánh bạc khai tên là Bùi Thị Đ, Nguyễn Văn L, Trần Văn P1, Phạm Đức T3, Lương Văn Q1 và Phạm Văn P2.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt: căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 (bị cáo T3 áp dụng thêm điểm x khoản 1 Điều 51); khoản 1 Điều 35; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bùi Thị Đ phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
Nguyễn Văn L, Trần Văn P1 và Phạm Văn P2 mỗi bị cáo phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Lương Văn Q1 và Phạm Đức T3 mỗi bị cáo phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
* Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đã bị xử phạt hình phạt chính là phạt tiền, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 9.790.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân bài.
Các bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tổ tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Thị Đ, Nguyễn Văn L, Trần Văn P1, Lương Văn Q1, Phạm Văn P2 và Phạm Đức T3 đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến; Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 26/4/2025; Bản ảnh khám nghiệm hiện trường cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 09 giờ ngày 26/04/2025, tại tầng 01, tàu Stella Luxury, biển số QN 9298, neo đậu tại Âu tàu A, Cảng du lịch Quốc tế T, thuộc phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Thị Đ, Phạm Đức T3, Phạm Văn P2, Nguyễn Văn L, Trần Văn P1 và Lương Văn Q1 đã có hành vi sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ để đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “ba cây”. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Phòng C4 Công an tỉnh Q bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 9.790.000đ (chín triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng); 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân.
Hành vi của các bị cáo Bùi Thị Đ, Nguyễn Văn L, Trần Văn P1, Lương Văn Q1, Phạm Văn P2 và Phạm Đức T3 đã phạm tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn công cộng. Các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: các bị báo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Đức T3 có bố đẻ là liệt sĩ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về vai trò và mức hình phạt: đây là vụ án đồng phạm giản đơn, mang tính chất bộc phát. Trong đó, bị cáo Đ là người khởi xướng, chuẩn bị bài và có số tiền đánh bạc nhiều nhất nên giữ vai trò đầu vụ. Tiếp theo là các bị cáo P2, P1 và L có số tiền đánh bạc cơ bản ngang nhau và nhiều sau Đông nên giữ vai trò thứ hai. Cuối cùng là T3 và Q1 có số tiền đánh bạc ít nhất nên giữ vai trò sau cùng. Xét các bị cáo đều có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng hình phạt chính là phạt tiền là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng:
Về số tiền thu giữ: Cơ quan điều tra thu giữ trên chiếu bạc số tiền 9.790.000 đồng, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân bài cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 06 đĩa DVD là vật chứa dữ liệu ghi lời khai của các bị cáo được chuyển theo hồ sơ vụ án, cần lưu trong hồ sơ.
[7] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[8] Về biện pháp ngăn chặn: các bị cáo Bùi Thị Đ, Phạm Văn L1, Trần Văn P1, Lưu Văn Q3, Phạm Văn P2 và Phạm Đức T3 bị xử phạt tiền, nên căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” đang được áp dụng đối với các bị cáo.
[9] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Riêng bị cáo Phạm Đức T3 là con liệt sĩ và xin được miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh, điều luật và hình phạt:
Tuyên bố các bị cáo Bùi Thị Đ, Nguyễn Văn L, Trần Văn P1, Phạm Văn P2, Phạm Đức T3 và Lương Văn Q1 phạm tội: “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 (căn cứ thêm điểm x đối với bị cáo Phạm Đức T3) Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Bùi Thị Đ phạt tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
Xử phạt Nguyễn Văn L phạt tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt Trần Văn P1 phạt tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt Phạm Văn P2 phạt tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
Xử phạt Phạm Đức T3 phạt tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
Xử phạt Lương Văn Q1 phạt tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
- Về biện pháp ngăn chặn: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 1080/2025/LC-CSHS ngày 04/5/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất nhập cảnh số 3560/2025/QĐ-CSHS ngày 04/5/2025 đối với Bùi Thị Đ.
Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 1081/2025/LC-CSHS ngày 04/5/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất nhập cảnh số 3561/2025/QĐ-CSHS ngày 04/5/2025 đối với Phạm Văn P2.
Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 1082/2025/LC-CSHS ngày 04/5/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất nhập cảnh số 3562/2025/QĐ-CSHS ngày 04/5/2025 đối với Trần Văn P1.
Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 1083/2025/LC-CSHS ngày 04/5/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất nhập cảnh số 3563/2025/QĐ-CSHS ngày 04/5/2025 đối với Nguyễn Văn L.
Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 1084/2025/LC-CSHS ngày 04/5/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất nhập cảnh số 3564/2025/QĐ-CSHS ngày 04/5/2025 đối với Phạm Đức T3.
Huỷ bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 1085/2025/LC-CSHS ngày 04/5/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất nhập cảnh số 3565/2025/QĐ-CSHS ngày 04/5/2025 đối với Lương Văn Q1.
- Về xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 9.790.000đ (chín triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng).
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 (ba mươi sáu) quân bài.
(khoản tiền theo phiếu nhập kho ngày 06/5/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Q; vật chứng còn lại theo Biên bản giao nhận vật chứng số 100/BB-THA ngày 17 tháng 6 năm 2025 giữa Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).
- Về án phí: căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: các bị cáo Bùi Thị Đ, Nguyễn Văn L, Trần Văn P1, Lương Văn Q1, Phạm Văn P2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phạm Đức T3 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hiền |
Bản án số 158/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về đánh bạc (khoản 1 điều 321 bộ luật hình sự)
- Số bản án: 158/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Đ cùng đồng phạm - Đánh bạc
