Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH

Bản án số: 158/2025/HS-ST

Ngày 22 - 12 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Văn Quyền.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Bùi Đức Nhân và bà Phạm Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1- Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Mạnh Tiến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 141/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2025/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 12 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự số 163/2025/TB-TA ngày 10/12/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Hoàng S; sinh ngày: 18/5/1995 tại tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: tổ A, khu H, phường C, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở hiện nay: tổ G, khu C, phường H, tỉnh Quảng Ninh nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hồng T(đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 24/01/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh) xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng, về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Ngày 05/3/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh) xử phạt 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù (cho hưởng án treo, chuyển thành án giam) của bản án ngày 24/01/20218: buộc bị cáo S phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 36 tháng tù. Đến ngày 30/9/2023, chấp hành xong hình phạt tù; chưa thi hành xong khoản tiền truy thu sung ngân sách Nhà nước; tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/9/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q17; có mặt.

* Bị hại:

Chị Nguyễn Thị M H1sinh năm 1973; nơi cư trú: số H, gác B T, phường G, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Hồng Q năm 1987; nơi cư trú: tổ D, khu C, phường C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

- Anh Bùi Hải A năm 1990; nơi cư trú: tổ B, khu G, phường V, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 45 ngày 02/9/2025, tại khu vực dốc đồi Ngân hàng, thuộc tổ A, khu H, phường H, tỉnh Quảng NinhPhạm Hoàng Smượn của anh Bùi Hải A1(ở tổ B, khu G, phường V, tỉnh Quảng Ninhlà bạn cùng Công ty) chiếc xe mô tô Honda Visson, biển kiểm soát (BKS) 14N1-029.48 nói là để đi sang phường B, thì được anh Hải A2 ý. Sđiều khiển xe mô tô đến khu vực thuộc khu A, phường B, tỉnh Quảng Ninhthì nhìn thấy chị Nguyễn Thị M H1(sinh năm 1973, trú tại: số H, gác 2, T, phường G, thành phố H đứng một mình trên vỉa hè trên tay trái có cầm 01 chiếc điện thoại. Sliền nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên nên điều khiển xe qua lại để quan sát. Sau đó Sđỗ xe trên vỉa hè cách nơi chị H1đang đứng khoảng 15 mét rồi xuống xe đứng nhìn từ phía sau, lúc này chị H1đang gọi điện; thấy không có người đi lại, S1 chạy đến giật chiếc điện thoại di động trên tay chị H1rồi nhanh chóng lên xe mô tô điều khiển xe bỏ chạy. Khi kiểm tra, biết được chiếc điện thoại vừa lấy là loại Iphone 14 Promax, màu đen trên màn hình điện thoại có chụp một phụ nữ đeo kính và một người đàn ông đứng tại vườn hoa. Schuyển điện thoại sang chế độ máy bay rồi điều khiển xe về gặp Hải A3 trả xe. Khi gặp lại H1 ASmượn điện thoại của H1 A3 gọi điện cho anh Nguyễn Hồng Q năm 1987, trú tại: tổ D, khu C, phường C, tỉnh Quảng Ninhnói là có điện thoại cần bán, thì được anh Q1 đến ngõ B, phường C. Stiếp tục nhờ anh Hải A4 đến nhà anh Q2 chỉ nói là đi có việc. Khi gần đến nơi, S2 anh Hải A5 ở đầu ngõ còn mình điều khiển xe vào gặp và bán cho anh Q3 điện thoại trên, với giá 3.800.000 đồng. Sau đó Snhờ H1 Achở mình về nhà, trên đường đi Svứt chiếc sim điện ra đường. Số tiền có được từ việc bán điện thoại Sđã chi tiêu cá nhân hết.

Quá trình điều tra, anh Nguyễn Hồng Q4 tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại Iphone 14 Promax trước đó đã mua của S và cung cấp hình ảnh Strên tài khoản Facebook cho cơ quan Công an. Qua rà soát, đến ngày 06/9/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với SQuá trình làm việc, tiến hành kiểm tra xác định: Sơn dương tính với ma túy, loại Methamphetamine và MDMA.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 92/KL-HĐĐGTS ngày 24/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Quảng Ninh, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, đã qua sử dụng, màu đen, dung

3

lượng 128GB, mua mới tháng 11/2023, tại thời điểm tháng 9/2025 trị giá 17.267.000 đồng. (mười bảy triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Các vật chứng, tài sản thu giữ được trong quá trình điều tra vụ án gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu đen, dung lượng 128GB, không gắn sim do anh Q5 nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng BKS 14N1-029.48 do anh Bùi Hải A6 nộp; khám xét tại nơi ở của S3 giữ: 01 áo phông màu trắng; 01 quần đùi màu đen; 01 khẩu trang màu trắng là bộ trang phục Smang trên người khi thực hiện hành vi phạm tội. Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị M H1và trả lại chiếc xe mô tô Honda Vision, màu trắng, BKS: 14N1-029.48 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Bùi Hải A1

Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu ở trên. Ngoài ra, S4 khai nhận: việc cướp giật tài sản của chị H1chỉ có một mình Sthực hiện, không có ai khác tham gia hoặc được hưởng lợi; sáng ngày 05/9/2025, trên đường đi Snhặt được 01 gói ma túy “đá”, đến chiều cùng ngày S5 một bãi đất trống thuộc phường Csử dụng một mình. Tại phiên tòa, S6 ý bồi thường cho anh Nguyễn Hồng Q6 tiền 3.800.000 đồng như quan điểm, yêu cầu của anh Q Đối với bộ trang phục S mang trên người khi thực hiện hành vi phạm tội đã bị cơ quan Công an thu giữ, bị cáo không đề nghị nhận lại.

Bị hại, chị Nguyễn Thị M H1vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại giai đoạn điều tra và quan điểm trình bày tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, thể hiện: khoảng 21 giờ, ngày 02/9/2025 chị H1ra đón xe về thành phố Hải Phòng, trong lúc chờ xe, chị H1ngồi gọi điện thoại ở vỉa hè trước gara ô tô P Cầu thuộc khu A, phường B bất ngờ có 01 nam thanh niên đi từ phía sau tới, người này dùng tay giật chiếc điện thoại Iphone 14 Promax, màu đen của chị H1đang cầm trên tay rồi chạy đến chỗ xe máy để cách đó 15 mét rồi lên xe chạy về hướng cầu B thoát. Sau đó, chị H1đến cơ quan Công an trình báo sự việc. Trong giai đoạn điều tra, chị H1đã được trả lại chiếc điện thoại bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại, đồng thời đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Hồng Q8 lời khai tại giai đoạn điều tra và quan điểm trình bày tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, thể hiện: khoảng 21 giờ 43 phút ngày 02/9/2025, anh Q9 ở nhà tại tổ D, khu C, phường Cthì nhận được điện thoại của S7 muốn bán hộ người quen một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax; sau khi hẹn gặp Sđể kiểm tra tình trạng máy, anh Q10 ý mua chiêc điện thoại này với giá 3.800.000 đồng thì S6 ý; khi bán điện thoại S8 nói rõ nguồn gốc tài sản cho anh Q11. Đến ngày 03/9/2025, thấy cơ quan Công an truy tìm chiếc điện thoại có đặc điểm giống với chiếc thoại trước đó mua của S9 anh Q12 cơ quan Công an giao nộp. Anh Qđề nghị S10 trả lại số tiền 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng) mà anh Q4 trả cho S11 mua điện thoại.

Người làm chứng, anh Bùi Hải A7 lời khai thể hiện quá trình gặp rồi cho Smượn xe mô tô; sau đó chở S5 khu vực phường C với lời khai của bị cáo và diễn biến, nội dung vụ án nêu trên.

4

Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSKV1 ngày 03 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh đã truy tố bị can Phạm Hoàng Sơn, về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng: điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025): xử phạt bị cáo Phạm Hoàng S từ 36 (ba mươi sáu) đến 42 (bốn mươi hai) tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 06/9/2025).
  • - Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy: 01 áo phông màu trắng; 01 quần đùi màu đen; 01 khẩu trang màu trắng, đều đã qua sử dụng.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, không sai. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác; phù hợp với sơ đồ hiện trường, bản ảnh, vật chứng, tài sản đã thu giữ và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 21 giờ ngày 02/9/2025, tại khu vực thuộc khu A, phường B, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Hoàng S đã có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu đen trị giá 17.267.000 đồng (mười bảy triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị M H1sau đó đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Bị cáo là người đang có tiền án, chưa chấp hành xong toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 43/2021/HS-ST ngày 05/3/2021 của Tòa án nhân Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh) đã xét

5

xử bị cáo trước đó. Tại bản án hình sự sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật số 43/2021/HS - ST này, đã xác định bị cáo “tái phạm”; lần này bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự, đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ninh đã truy tố.

  1. [3] Điều 171 Bộ luật hình sự quy định:

    “1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

    i) Tái phạm nguy hiểm.”

  2. [4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền về tài sản của công dân, là khách thể được pháp luật bảo vệ; thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhằm giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
  3. [5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    • [5.1] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
    • [5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.
  4. [6] Về hình phạt:
    • [6.1] Về hình phạt chính: căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định không những nhằm trừng trị mà còn để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, phòng ngừa chung cho xã hội, đáp ứng được mục đích của hình phạt.
    • [6.2] Về hình phạt bổ sung: theo khoản 5 Điều 171 của Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  5. [7] Về trách nhiệm dân sự (bồi thường thiệt hại):

    Bị hại, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Hồng Q13 cầu bị cáo phải trả lại số tiền 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng) là khoản tiền anh

6

Q4 trả cho bị cáo khi mua điện thoại. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý trả tiền theo yêu cầu của anh Q là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận và quyết định trong bản án.

  1. [8] Về xử lí vật chứng, tài sản đã thu giữ:

    Các vật chứng, tài sản còn lại của vụ án gồm: 01 áo phông màu trắng; 01 quần đùi màu đen; 01 khẩu trang màu trắng, đều đã qua sử dụng là trang phục bị cáo mang trên người khi thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị cáo không đề nghị nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

  2. [9] Đối với anh Nguyễn Hồng Q14 người mua lại chiếc điện thoại của S12 không biết đó là tài sản do S16 tội mà có; đối với anh Hải A8 Smượn xe mô tô và sau đó cho mượn điện thoại để S13 cho Q2 anh H1 Akhông biết và không tham gia cùng S14 hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý đối với anh Q15 anh Hải A1, Hội đồng xét xử không đề cập.

    Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Hoàng S15 điều tra, xác minh xác định hành vi của S8 đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2025), Công an tỉnh Q ra Quyết định xử phạt hành chính với Svề hành vi này là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

  3. [10] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  4. [11] Về quyền kháng cáo bản án: bị cáo; bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025):

    Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng S16 tội “Cướp giật tài sản”

    Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng S 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 06/9/2025).

  2. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 589, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự:

    Buộc bị cáo Phạm Hoàng S17 trả cho anh Nguyễn Hồng Q6 tiền 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm nghìn đồng). Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không thực hiện nghĩa vụ trả tiền (không trả hoặc trả không đầy đủ) thì bị cáo còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

7

  1. Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy: 01 áo phông màu trắng (có dòng kẻ ngang trước ngực màu xanh), đã qua sử dụng; 01 quần đùi màu đen (02 mép quần có sọc màu xanh), đã qua sử dụng; 01 khẩu trang màu trắng, đã qua sử dụng. Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 33/BB-THA/KV1 lập ngày 26/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q thi hành án dân sự Khu vực 1 – Quảng Ninh.
  2. Căn cứ vào: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a và b khoản 1 Điều 3, các khoản 1 và 3 Điều 21, các điểm a và c khoản 1 Điều 23, điểm b khoản 1 Điều 24, các khoản 2 và 8 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Phạm Hoàng S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Căn cứ vào: các khoản 1 và 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - VKSND Khu vực 1 – Quảng Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Phòng THADS Khu vực 1 – Quảng Ninh;
  • - THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ; Lưu TA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Quyền

8

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Đức Nhân Phạm Thị H2

Nguyễn Văn Q16

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2025/HS-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 158/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hoàng Sơn phạm tội "Cướp giật tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger