|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 158/2025/HS-ST Ngày 04 - 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Văn Đài – Nguyên hiệu trưởng Trường THCS Hùng Vương.
Ông Nguyễn Đình Quang - Cán bộ nghỉ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Đăng Định - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 tháng 11 năm 2025 và ngày 04 tháng 11 năm 2025, tại phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 143/2025/TLST – HS ngày 26 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/HSST-QĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2025/HSST-QĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 89/2025/HSST-QĐ ngày 24 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 100/2025/HSST-QĐ ngày 22 tháng 10 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Hoàng Quốc H, sinh ngày 11/11/2009, tại Đồng Nai; Số CCCD: [...], nơi cấp Cục Cảnh sát QLHC về TTXH. (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 14 tuổi 11 tháng 24 ngày)
Nơi cư trú: Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1981 và bà Hoàng Thị Lan A, sinh năm 1984; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. -
Họ và tên: Nguyễn Bảo N, sinh ngày 27/12/2008, tại Đồng Nai; Số CCCD: [...], nơi cấp Cục Cảnh sát QLHC về TTXH. (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 15 tuổi 10 tháng 08 ngày).
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm M, xã N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Ấp H, xã H, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965 (Đã chết). và bà Trần Thị N1, sinh năm 1965; Bị cáo chưa có vợ và con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. -
Họ và tên: Nguyễn Vũ Hòa H1, sinh ngày 04/6/2008, tại Đồng Nai; Số CCCD: [...], nơi cấp Cục Cảnh sát QLHC về TTXH. (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 16 tuổi 05 tháng).
Nơi cư trú: Ấp A, xã H, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung H2, sinh năm 1975 và bà Vũ Thị N2, sinh năm 1977; Bị cáo chưa có vợ và con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. -
Họ và tên: Hồ Duy Trung H3, sinh ngày 22/8/2007, tại Đồng Nai; Số CCCD: [...], nơi cấp Cục Cảnh sát QLHC về TTXH. (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 17 tuổi 02 tháng 13 ngày).
Nơi cư trú: Ấp T, xã B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Thượng T1, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1985; Bị cáo chưa có vợ và con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. -
Họ và tên: Trần Văn P, sinh ngày 03/12/2008, tại Đồng Nai; Số CCCD: [...], nơi cấp Cục Cảnh sát QLHC về TTXH. (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 15 tuổi 11 tháng 01 ngày).
Nơi cư trú: Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H4, sinh năm 1981 và bà Lê Thị T2, sinh năm 1983; Bị cáo chưa có vợ và con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc H:
- 1/ Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1981 – bố bị cáo. (Có mặt)
- 2/ Bà Hoàng Thị Lan A, sinh năm 1984 – mẹ bị cáo. (Vắng mặt)
Cùng cư trú: Ấp E, xã T, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Bảo N: Bà Trần Thị N1, sinh năm 1965. (Có mặt)
Nơi cư trú: Ấp H, xã H, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Vũ Hòa H1:
- 1/ Ông Nguyễn Trung H2, sinh năm 1975 – bố bị cáo. (Có mặt)
- 2/ Bà Vũ Thị N2, sinh năm 1977 – mẹ bị cáo. (Vắng mặt)
Cùng cư trú: Ấp A, xã H, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Hồ Duy Trung H3:
- 1/ Ông Hồ Thượng T1, sinh năm 1981 – bố bị cáo. (Có mặt)
- 2/ Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1985 – mẹ bị cáo. (Vắng mặt)
Cùng cư trú: Ấp T, xã B, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Văn P:
- 1/ Ông Trần Văn H4, sinh năm 1981 – bố bị cáo. (Có mặt)
- 2/ Bà Lê Thị T2, sinh năm 1983 – mẹ bị cáo. (Vắng mặt)
Cùng cư trú: Ấp E, xã T, tỉnh Đồng Nai.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc H, Nguyễn Bảo N và Nguyễn Vũ Hòa H1: Bà Bùi Thị M1 - trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Duy Trung H3 và Trần Văn P: Bà Phan Thị T3 - trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc H và Nguyễn Bảo N: Ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1992 – Thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Đường số F, ấp Q, xã T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị hại: Anh Thân Duy A1, sinh năm 2008. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã B, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
- 1/ Bà Nguyễn Thị N4, sinh năm 1986 – mẹ bị hại. (Có mặt)
- 2/ Ông Thân Văn L, sinh năm 1985 – bố bị hại. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng Quốc H, Nguyên Vũ Hòa H5, Hồ Duy Trung H3, Trần Văn P là bạn học chung tại Trường Cao Đẳng Công Nghệ Thành phố H (Cơ sở B) tại ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Nay là xã T, tỉnh Đồng Nai). H quen biết và có quan hệ tình cảm với chị Bùi Huyền T4, sinh năm 2010 nhưng đã chia tay. Vào khoảng giữa tháng 10 năm 2024, H thấy anh Thân Duy A1 đi cùng với chị T4 thì H nghĩ chị T4 và Duy A1 có quan hệ tình cảm nên H lên mạng xã hội T5 nhắn tin hỏi Duy A1 về việc vì sao lại chở bạn gái của mình đi chơi. Sau đó, Duy A1 và H nhắn tin chửi nhau và có thách thức đòi đánh nhau tay đôi với nhau. Sau đó, Duy A1 có kể cho anh Thân Xuân Đ là bạn bè cùng xóm biết về việc hai bên có nhắn tin chửi nhau và thách thức đánh nhau, Duy A1 có rủ Đ đi chung để có chuyện gì thì vào đánh phụ thì Đại đồng Ý. Quá trình nhắn tin chửi nhau với Duy A1 thì H hẹn gặp Duy A1 tại “tiệm trà 207” thuộc thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (Nay là xã T, tỉnh Đồng Nai) để nói chuyện và giải quyết mâu thuẫn.
Vào khoảng 10 giờ ngày 04/11/2024, Duy A1 và Đ đến “tiệm trà 207” để gặp H nhưng chỉ thấy một số người bạn của H, lúc này Đ nhắn tin cho H với nội dung “hẹn người ta lên mà không dám ra hả? Sợ hả?”, sau đó cả hai đi về thì Duy A1 tiếp tục nhắn tin cho H với nội dung “mày sợ hả? mày lên nhà thờ T7 gặp tao” thì H nhắn “ok”.
Sau khi hẹn gặp Duy A1, vào khoảng 13 giờ cùng ngày 04/11/2024, H gọi điện rủ N3 đi phụ giải quyết mâu thuẫn với Duy A1 thì N3 đồng ý. Sau đó, H gặp N3 tại “tiệm trà 207” thì có H5 và P đang ở đây, H rủ N3 đi đón H3 để đi gặp Duy A1, lúc này H5 và P biết N3 và H đi giải quyết mâu thuẫn với Duy A1 nên xin đi chung để nếu có chuyện gì sẽ vào phụ giúp nhưng H nói “không nên đi đông người sẽ không tốt” nhưng H5 và P vẫn xin đi theo nên H không nói gì mà cùng N3 đến nhà P chở P đi cùng đến cổng Giáo xứ T8 trên đường Q thuộc ấp T, xã B, huyện T để gặp anh Duy A1. H hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển số 60Z4-1201 của H5 để chở N3 đi đón H3 thì Hiệp đồng Ý1. Sau khi H và N3 đi, P sử dụng xe Honda Wave Alpha biển số 60B8-676.31 chở H5 đuổi theo H và N3 để cùng nhau đi đến nhà H3 ở đường B, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, tại nhà H3, H kể về mâu thuẫn của bản thân với anh Duy A1 và nói đã hẹn Duy A1 gặp mặt để giải quyết mâu thuẫn ở trước cổng Giáo xứ T8 và rủ H3 đi cùng. Sau đó, H đưa xe mô tô biển số 60Z4-1201 cho H3 điều khiển để chở H và N3, trong đó H cầm theo 01 con dao Thái Lan và N3 cầm theo 01 dao cán gỗ dài khoảng 49cm, lưỡi bằng kim loại cất giấu dưới áo; P chở H5 đi theo sau H đến địa điểm hẹn gặp anh Duy A1. Khi đến Giáo xứ T8 gặp anh Thân Duy A1 và anh Thân Xuân Đ đứng trước cổng thì H và N3 xuống xe, còn H3 vẫn ngồi chờ trên xe. H hỏi anh Duy A1 “Chuyện này là sao đây”, rồi cự cãi với nhau, H cầm con dao Thái Lan trên tay phải đâm 01 nhát vào lưng của anh Duy A1 (Do vết thương không sâu nên anh Duy A1 không yêu cầu giám định), đồng thời N3 cũng cầm 01 dao cán gỗ trên tay phải chém anh Duy A1 01 nhát vào tay trái. Lúc này, P và H5 cũng vừa chạy đến nhưng cả hai chỉ ngồi trên xe và quan sát. Do bị chém, anh Duy A1 bỏ chạy được khoảng 15 mét thì bị vấp ngã xuống đường, N3 đuổi theo và chém anh Duy A1 thêm nhiều nhát vào tay trái, chân và đùi của anh Duy A1 rồi tự dừng lại. Thấy vậy, P điều khiển xe mô tô biển số 60B8-676.31 chở H5 chạy về phía anh Duy A1 bị chém, khi đến gần vị trí của N3, P điều khiển xe mô tô biển số 60B8-676.31 chạy chậm lại để cho N3 ngồi lên xe rồi P chở H5 và N3 bỏ chạy về trường Cao đẳng Công nghệ thành phố H để tẩu thoát. Còn H ngồi lên xe mô tô biển số 6074-1201 và chở H3 bỏ chạy. Trên đường đi, H đã vứt con dao ven đường, còn N3 mang dao về rửa sạch và cất giấu ở nhà. Sau khi xảy ra sự việc bà Nguyễn Thị N4 (Mẹ của anh Thân Duy A1) đã trình báo sự việc đến Công an xã B và đưa anh Duy A1 đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T, sau đó chuyển đến Bệnh viện Q để điều trị. Công an xã B chuyển giao hồ sơ đến Công an huyện T để điều tra theo thẩm quyền.
Tại kết luận giám định số: 1334/KLTTCT-TTPYĐN ngày 16/12/2024 của Trung tâm P, kết luận:
1. Kết luận:
- Sẹo vết thương trùng với vết mổ mặt sau khuỷu trái kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%.
- Sẹo mổ khuỷu trái kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%.
- Sẹo mổ mặt sau khuỷu trái kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%.
- Sẹo vết thương trùng vết mổ mặt sau cẳng tay trái kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%.
- Sẹo mặt ngoài đùi trái kích thước trung bình. Tỷ lệ: 02%.
- Sẹo mổ dẫn lưu đùi trái kích thước nhỏ. Tỷ lệ: 01%.
- Gãy lồi cầu trong xương cánh tay trái đã kết hợp xương. Tỷ lệ: 21%.
- Mẻ 1/3 dưới xương quay trái. Tỷ lệ: 02%.
- Tổn thương hoàn toàn thần kinh gian cốt sau bên trái (nhánh thần kinh quay trái), vị trí 1/3 dưới cẳng tay trái. Tỷ lệ: 11%.
Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tốn thương cơ thể của Thân Duy A1, sinh năm 2008 tại thời điểm giám định là: 37% (Ba mươi bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
2. Kết luận khác:
- Vật gây thương tích: Vật sắc.
- Vật chứng thu giữ gồm: 01 con dao dài 49 cm (lưỡi dài 37 cm, cán dao quấn vải màu đen dài 12cm, bản rộng 4cm), 01 xe mô tô biển số 60Z4-1201 và 01 xe mô tô biển số 60B8-676.31.
Ngày 27/12/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Hoàng Quốc H, Nguyễn Bảo N, Nguyễn Vũ Hòa H1, Hồ Duy Trung H3 và Trần Văn P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, H, N, H3, H1 và P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại Cáo trạng số: 155/CT-VKS-HS ngày 20/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Đồng Nai truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc H, Nguyễn Bảo N, Nguyễn Vũ Hòa H1, Hồ Duy Trung H3 và Trần Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc H, Nguyễn Bảo N, Nguyễn Vũ Hòa H1, Hồ Duy Trung H3 và Trần Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 54; Điều 65; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 12, Điều 115, Điều 124 và Điều 179 Luật Tư pháp cho người chưa thành niên năm 2024 đề nghị xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Đỗ Hoàng H6 và Nguyễn Bảo N mức án 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Bị cáo Nguyễn Vũ Hòa H1 và Hồ Duy Trung H3 mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Bị cáo Trần Văn P mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách của các bị cáo là 03 năm.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 con dao dài 49 cm (lưỡi dài 37 cm, cán dao quấn vải màu đen dài 12cm, bản rộng 4cm) do bị cáo N sử dụng vào việc phạm tội đề nghị Tòa án tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 con dao Thái Lan, bị cáo H6 sử dụng để gây thương tích cho anh Duy A1 đã vứt trên đường, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã truy tìm nhưng không thu hồi được.
- Đối với xe mô tô biển số 60Z4-1201 là của bà Vũ Thị N2 (mẹ bị cáo H1), bà N2 không biết việc bị cáo H1 sử dụng xe mô tô trên để phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho bà N2.
- Đối với xe mô tô biển số 60B8-676.31 là của ông Nguyễn Thanh L1, ông L1 cho K mượn xe để đi học, sau đó K cho P mượn xe. Ông L1 và anh K không biết việc bị cáo P sử dụng xe mô tô trên để phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho ông L1.
Về dân sự: Quá trình điều tra anh Thân Duy A1 và đại diện theo pháp luật của bị hại yêu cầu các bị cáo và gia đình phải liên đới bồi thường về sức khỏe, tinh thần cho bị hại số tiền 500.000.000 đồng. Các bị cáo và gia đình các bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 230.000.000 đồng cho bị cáo. Người đại diện theo pháp luật bị hại đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Tại phần tranh luận:
- Lời bào chữa của bà Bùi Thị M1 cho bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc H, Nguyễn Bảo N và Nguyễn Vũ Hòa H1: Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai đã truy tố là đúng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, các bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường tổn thất về sức khỏe cho bị hại nên đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
- Lời bào chữa của bà Phan Thị T3 cho bị cáo Hồ Duy Trung H3 và Trần Văn P: Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai đã truy tố là đúng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và có công với cách mạng, các bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường tổn thất về sức khỏe cho bị hại nên đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
- Lời bào chữa của Luật sư Nguyễn Văn N3 cho bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc H và Nguyễn Bảo N: Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai đã truy tố là đúng. Trong quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, các bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường tổn thất về sức khỏe cho bị hại, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo chưa đủ 16 tuổi, gia đình các bị cáo có công với cách mạng nên đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Đồng Nai và không tranh luận về tội danh và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Đồng Nai đề nghị.
- Ý kiến của người đại diện của bị hại: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định của pháp luật.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để tiếp tục đi học, sửa lại lỗi lầm và hòa nhập với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[1.2] Người đại diện theo pháp luật của bị hại là ông Thân Văn L; Người đại diện theo pháp luật của các bị cáo và người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc H, Nguyễn Bảo N vắng mặt tại phiên tòa nhưng ông Thân Văn L đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và người bào chữa cho bị cáo đã có bản bào chữa nên căn cứ Điều 291, 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về tội danh:
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của người làm chứng, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Đồng Nai truy tố. Từ đó, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 04/11/2024, tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Hoàng Quốc H, Nguyễn Bảo N, Nguyễn Vũ Hòa H1, Hồ Duy Trung H3 và Trần Văn P có hành vi dùng 01 con dao Thái Lan và 01 con dao dài 49 cm là hung khí nguy hiểm chém anh Thân Duy A1 nhiều nhát vào tay trái và đùi trái gây thương tích với tỷ lệ thương tật 37% (Ba mươi bảy phần trăm). Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Đồng Nai truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là có cơ sở, đúng người, đúng tội.
[3] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mặt khác gây ảnh hưởng xấu về an ninh và trật tự trong xã hội. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi và hậu quả do hành vi của mình gây ra nhưng do xem thường pháp luật và hạn chế về nhận thức nên các bị cáo đã cố ý phạm tội. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình gây ra, cần có biện pháp xử phạt thích hợp nhằm cải tạo và giáo dục các bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật.
[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Đây là vụ án đồng phạm nhưng chỉ mang tính nhất thời, giản đơn, không có tổ chức. Trong đó, bị cáo H là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Nguyễn Bảo N và Hồ Duy Trung H3. Bị cáo P và H1 biết rõ việc H và N cầm theo hung khí để đi giải quyết mâu thuẫn với anh Duy A1 nên xin đi theo để nếu cần thì vào giúp sức. Các bị cáo bộc phát không có sự bàn bạc và câu kết chặt chẽ với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét, quyết định hình phạt phù hợp với tính chất, vai trò của từng bị cáo.
[5] Các bị cáo phạm tội đều chưa thành niên nên cần áp dụng Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 12, Điều 115, Điều 119 và Điều 179 Luật tư pháp cho người chưa thành niên năm 2024 để áp dụng quy định có lợi cho người phạm khi lượng hình cho các bị cáo. Đảm bảo nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, củ thể: “...Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm ...”.
[6] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6.2] Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu.
[6.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường tổn thất về sức khỏe cho bị hại nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo. Ngoài ra, bị cáo N có bố tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ Quốc T6, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bố đã chết, mẹ sức khỏe yếu và hiện đang bán vé số dạo; bị cáo H có ông N5 được Nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhì và hiện nay còn đang theo học tại Trường Cao Đẳng Công Nghệ Thành phố H (Cơ sở 2); bị cáo P có ông Nó là thương bịnh hạng 4/4, gia đình bị cáo P có hoàn cảnh khó khăn (Theo đơn xác nhận tại Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú) và hiện nay còn đang theo học tại Trường Cao Đẳng Công Nghệ Thành phố H (Cơ sở 2); bị cáo H1 có ông Nó là người có công với cách mạng, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn (Theo đơn xác nhận tại Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú) và hiện nay còn đang theo học tại Trường Cao Đẳng Công Nghệ Thành phố H (Cơ sở 2); gia đình bị cáo H3 có hoàn cảnh khó khăn (Theo đơn xác nhận tại Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú); Bị hại anh Thân Duy A1 và người đại diện theo pháp luật của bị hại đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo để tiếp tục được đi học và sửa chữa lỗi lầm. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng cho các bị cáo.
Do các bị cáo Nguyễn Vũ Hòa H1, Hồ Duy Trung H3 và Trần Văn P có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và có vai trò đồng phạm thứ yếu nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trá ch nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, khi phạm tội bị cáo H mới 14 tuổi 11 tháng 24 ngày, bị cáo N 15 tuổi 10 tháng 08 ngày, bị cáo H1 16 tuổi 5 tháng, bị cáo H3 17 tuổi 02 tháng 13 ngày và bị cáo P 15 tuổi 11 tháng 01 ngày. Ngoài lần phạm tội này các bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương. Các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo. Trong thời gian bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” các bị cáo không vi phạm pháp luật. Sau khi xảy ra vụ việc bị cáo đã hợp tác khai báo giúp cơ quan tiến hành tố tụng nhanh chóng điều tra xử lý vụ việc. Các bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Điều 124, khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp cho người chưa thành niên năm 2024 và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Đồng Nai cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà vẫn đáp ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm trong cộng đồng. Đồng thời, cũng thể hiện được sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
[7] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- [7.1] Tịch thu tiêu hủy đối với 01 con dao dài 49 cm (lưỡi dài 37 cm, cán dao quấn vải màu đen dài 12cm, bản rộng 4cm) do bị cáo N sử dụng vào việc phạm tội.
- [7.2] Đối với 01 con dao Thái Lan do bị cáo H sử dụng để gây thương tích cho anh Duy A1 đã vứt trên đường, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã truy tìm nhưng không thu hồi được.
- [7.3] Đối với xe mô tô biển số 60Z4-1201 là của bà Vũ Thị N2 (mẹ bị cáo H1), bà N2 không biết việc H1 sử dụng xe mô tô trên để phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho bà N2 theo đúng quy định nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- [7.4] Đối với xe mô tô biển số 60B8-676.31 là của ông Nguyễn Thanh L1, ông L1 cho K mượn xe để đi học, sau đó K cho P mượn xe. Ông L1 và anh K không biết việc P sử dụng xe mô tô trên để phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho ông L1 theo đúng quy định nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra, gia đình các bị cáo đã tự nguyện bồi thường tổn thất về sức khỏe cho anh Duy A1. Người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận bồi thường và tại phiên tòa không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[9] Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Quan điểm của người bào chữa cho các bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị mức hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc H, Nguyễn Bảo N, Nguyễn Vũ Hòa H1, Hồ Duy Trung H3 và Trần Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
-
Về hình phạt:
-
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Luật số: 86/2025/QH 15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự; Điều 12, Điều 119, Điều 124 và Điều 179 Luật Tư pháp cho người chưa thành niên năm 2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc H 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, thời hạn được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/11/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc H cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo N 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, thời hạn được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/11/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Bảo N cho Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. -
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Luật số: 86/2025/QH 15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự; Điều 12, Điều 119, Điều 124 và Điều 179 Luật Tư pháp cho người chưa thành niên năm 2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Hòa H1 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, thời hạn được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/11/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Vũ Hòa H1 cho Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Hồ Duy Trung H3 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, thời hạn được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/11/2025).
Giao bị cáo Hồ Duy Trung H3 cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn P 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, thời hạn được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/11/2025).
Giao bị cáo Trần Văn P cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (Hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
-
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Luật số: 86/2025/QH 15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự; Điều 12, Điều 119, Điều 124 và Điều 179 Luật Tư pháp cho người chưa thành niên năm 2024.
-
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 con dao dài 49 cm (lưỡi dài 37 cm, cán dao quấn vải màu đen dài 12cm, bản rộng 4cm).
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/5/2025 của Phòng thi hành án dân sự Khu vực 3, tỉnh Đồng Nai. - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc H, Nguyễn Bảo N, Nguyễn Vũ Hòa H1, Hồ Duy Trung H3 và Trần Văn P mỗi người phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, người đại diện theo pháp luật bị hại và người bào chữa cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, bị hại và người đại diện theo pháp luật bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 158/2025/HS-ST ngày 04/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 158/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo vị thành niên
