|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 158/2025/HS-PT Ngày: 27/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Trung
Bà Trần Thị Mỹ Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 26/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Đào Duy T, Hồ Thị M do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 273/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
-Các bị cáo có kháng cáo:
- Đào Duy T, (tên gọi khác: Lụm); Giới tính: Nam.
Sinh năm 1989, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Tổ A, khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: buôn bán.
Con ông: Đào Thanh T1, sinh năm 1968; Con bà: Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1967.
Vợ: Võ Thị Bình T2, sinh năm 1995; Có 01 con sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo ra tự thú ngày 21/7/2024; bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 30/7/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
- Hồ Thị M, (tên gọi khác: Q); Giới tính: Nữ.
Sinh năm 1971, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: không.
Con ông: Hồ Văn Đ, sinh năm 1944; Con bà: Võ Thị N, sinh năm 1946.
Chồng: Huỳnh Thanh T3, sinh năm 1968; Có 02 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1999.
Tiền án: Tại bản án số 51/2024/HS-ST ngày 06/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch phạt bị cáo 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tiền sự: Không.
Bị cáo ra đầu thú ngày và bị tạm giữ ngày 26/7/2024; đến ngày 30/7/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
Ngoài ra, còn có bị cáo Lê Thị Kim É và Lê Văn C1 nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nội dung chính của vụ án:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên Đào Duy T, Lê Thị Kim É, Hồ Thị M, Lê Văn C1 đã nảy sinh ý định đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức mua bán số lô, đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền B và các tỉnh Miền Nam. Cách thức như sau, đánh “đầu đuôi”: Đài miền N, miền T là đặt cược vào 2 con số tự nhiên của giải tám (gọi là số đầu) và 2 con số tự nhiên cuối cùng của giải đặc biệt (gọi là số đuôi). Đài miền B thì đặt cược vào 2 con số của giải bảy (có 04 số, gọi là số đầu) và 2 con số cuối cùng của giải đặc biệt (gọi là số đuôi). Bao lô 02 số Đài miền N và miền T có tổng cộng 18 lô/1 đài, bao lô 02 số Đài miền B có tổng cộng 27 lô/1 đài. Bao lô 03 số: Đài miền N và miền T có tổng cộng có 17 lô/1 đài, miền B có tổng cộng 23 lô/1 đài. Đánh “xỉu chủ”: Đài miền N là đặt tiền cược vào 3 con số của giải bảy và 3 con số cuối cùng của giải đặc biệt, Đài miền B là đặt tiền cược vào 3 con số cuối cùng của giải sáu và 3 con số cuối cùng của giải đặc biệt; Đánh “số đá”: Là đặt cược vào 2 cặp số tự nhiên của cùng một kết quả xổ số, nếu kết quả xổ số có 2 cặp số này thì sẽ trúng, nếu không có 1 trong 2 cặp số sẽ thua, với tỷ lệ thắng thua như sau: ghi số đầu và đuôi tỉ lệ 1/75 (đặt cược 1.000 đồng thắng 75.000 đồng), bao lô tỉ lệ 1/75 (đặt cược 1.000đ thắng 75.000 đồng), số đá tỉ lệ 1/600 (đặt cược 1.000 đồng ăn 600.000 đồng), xỉu chủ tỉ lệ 1/550 (đặt cược 1.000 đồng ăn 600.000 đồng).
- Vào ngày 20/7/2024, Đào Duy T sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung, gắn sim số 0973460056 tài khoản zalo tên “D” nhắn tin vào ứng dụng zalo tên “cậu 3333” số điện thoại 0778.944.xxx đăng ký tài khoản mạng Zalo tên “Vũ Thị Mộng H” của Lê Văn C1 nhắn tin mua các số lô, đề trên đài miền B, cụ thể như sau:
+ Ghi đài Nam Định gồm các số: bao lô các số gồm 49, 32 với tổng số tiền 270.000 đồng; số đá 49,32 với tổng số tiền 2.700.000 đồng; bao lô số 32,19 với tổng số tiền 2.700.000 đồng; số đá 32,19 tổng số tiền 2.160.000 đồng. ghi số đuôi số 63 với tổng số tiền 60.000 đồng; ghi số đuôi số 72 với tổng số tiền 860.000 đồng; số đá 19,59 với tổng số tiền 162.000 đồng. Tổng số tiền mua bán số đề đài Nam Định của T và C1 là 8.912.000 đồng.
Đối chiếu với kết quả xổ số cùng ngày, C1 không trúng. Như vậy, tổng số tiền mua bán số đề đài Nam Định của C1 và T là 8.912.000 đồng. T chưa giao tiền cho C1.
- Vào ngày 21/7/2024, Đào Duy T tiếp tục nhắn tin cho Lê Văn C1 mua các số lô, đề trên hai đài miền N, cụ thể như sau:
+ Bao lô đài Tiền Giang, Kiên Giang gồm các số: 29, 49, 32, 59 với tổng số tiền 2.880.000 đồng; ghi số đầu đuôi đài T với tổng số tiền 840.000 đồng; Bao lô đài Tiền Giang số 99 số tiền 900.000 đồng; ghi số đầu, đuôi đài Kiên Giang các số 32 với tổng số tiền 270.000 đồng; ghi số đầu, đuôi hai đài Tiền Giang, Kiên G số 32 với tổng số tiền 560.000 đồng; ghi đầu, đuôi đài Tiền G1 số 32 với tổng số tiền 120.000 đồng. Tổng số tiền ghi trên đài Tiền Giang và Kiên G là 5.570.000 đồng.
Đối chiếu với kết quả xổ số cùng ngày, T không trúng. Như vậy, tổng số tiền mua bán số đề đài Tiền G1 và Kiên G của C1 và T là 5.570.000 đồng. T chưa giao tiền cho C1.
Cùng ngày, Lê Thị Kim É sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo Ezpro, gắn sim số 0975578337 nhắn tin cho Đào Duy T mua các số lô, đề trên đài miền N, cụ thể như sau:
+ Ghi đài miền N (đài T, Kiên Giang) gồm: đánh đầu, đuôi các số 19, 59, 52, 29, 27, 32, 09, 11, 76, 36, với tổng số tiền 1.908.000 đồng; bao lô các số 84, 027, 171, 57, 32, 49, 37, 73, 69, 33, 39, 93, 69, 89, 99 với số tiền 6.190.000 đồng; đánh xỉu chủ số 027, 171, 332, 249, 711, 209, 211, 359 với tổng số tiền 1.020.000 đồng; số đá 47x59, 47x22, 31x71, 09x49x89, 10x89, 50x89, 27x72, 52x80, 32x49, 37x73, 33x39x93, 11x76 với tổng số tiền 6.480.000 đồng; đánh số đầu đài K, 22 với tổng số tiền 480.000 đồng; đánh số đầu, đuôi đài Tiền Giang các số 20, 21 với tổng số tiền 240.000 đồng. Tổng số tiền ghi trên đài Tiền Giang và Kiên G là 16.318.000 đồng.
Đối chiếu với kết quả xổ số cùng ngày, É trúng các số sau: bao lô 027, 73; số đá 50x89; 27x72 với tổng số tiền trúng là 13.750.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của T và É là 30.068.000 đồng. T và É chưa giao tiền cho nhau.
Cùng ngày, Hồ Thị M sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng, gắn sim số 0335714269 nhắn tin cho Đào Duy T ghi đề trên đài miền nam, cụ thể như sau:
+ Ghi đài miền N (đài T, Kiên Giang) gồm: đánh đầu, đuôi các số 44, 86, 29, 59 với tổng số tiền 1.440.000 đồng; bao lô các số 29, 59, 99 với số tiền 7.200.000 đồng; số đá 89x98x88; 12x52x92; 39x79; 19x59x75 với tổng số tiền 2.232.000 đồng. Tổng số tiền ghi trên đài Tiền Giang và Kiên G là 10.872.000 đồng.
Đối chiếu với kết quả xổ số, M trúng các số sau: số đá 89x98x88 trúng tổng số tiền 7.500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 18.372.000 đồng. T và M chưa giao tiền cho nhau.
Đến 16 giờ 50 phút ngày 21/7/2024, khi Đào Duy T đến Công an Công an thị trấn H, huyện N tự thú, Lê Thị Kim É đến đầu thú. Đến ngày 26/7/2024, Hồ Thị M đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N đầu thú.
Vật chứng thu giữ:
- + 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S màu xanh, gắn sim số 0973460056 và số tiền 5.000.000 đồng của Đào Duy T sử dụng vào việc phạm tội.
- + 01 điện thoại hiệu Oppo Ezpro màu xanh, gắn sim số 0975578337 và số tiền 2.000.000 đồng của Lê Thị Kim É sử dụng vào việc phạm tội.
- + Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Hồ Thị M.
- + Số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của Lê Văn C1.
- + 02 sim Viettel của Đào Duy T và của Lê Thị Kim É sử dụng vào việc phạm tội.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 273/2024/HS-ST ngày 20/11/2024, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đã tuyên bố các bị cáo Đào Duy T và Hồ Thị M phạm tội “Đánh bạc".
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Đào Duy T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, đực trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2024 đến ngày 30/7/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Hồ Thị M 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2024 đến ngày 30/7/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Lê Minh C2 25.000.000đồng (hai mươi lăm triệu đồng); bị cáo Lê Thị Kim É 25.000.000đồng (hai mươi lăm triệu đồng); tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
3. Kháng cáo của các bị cáo:
Ngày 28/11/2024, bị cáo Hồ Thị M kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo hướng giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 28/11/2024 bị cáo Đào Duy T kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
4. Quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định và đúng nội dung, hình thức đơn kháng cáo nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo:
Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Đào Duy T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Thị M về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo T mức án 03 (Ba) năm tù, bị cáo M 10(Mười) tháng tù là phù hợp.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo nhận thấy:
Đối với bị cáo T: Bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới là giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, quá trình tại ngoại chấp hành nghiêm quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, cho bị cáo được hưởng án treo và giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Đối với bị cáo M: Bản thân bị cáo đã có tiền án về tội “Đánh bạc” nên không có căn cứ xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Tại cấp phúc thẩm tuy bị cáo cung cấp tình tiết mới là giấy xét nghiệm thể hiện bị nhiễm độc cường giáp nhưng xét thấy mức án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của các bị cáo Đào Duy T, Hồ Thị M làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Ngày 20/7/2024, Đào Duy T mua bán số đề với Lê Văn C1 với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc trên phơi đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền B (Nam Định) là 8.912.000 đồng; Ngày 21/7/2024, Đào Duy T mua bán số đề với Lê Văn C1, Lê Thị Kim É, Hồ Thị M với tổng số tiền T đánh bạc là 53.830.000 đồng trong đó mua bán số đề với Hồ Thị M với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc trên phơi đề dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các tỉnh miền N (Tiền Giang, Kiên Giang) là 18.372.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền bị cáo Đào Duy T sử dụng để đánh bạc là 62.742.000đ.
Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Đào Duy T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b (số tiền dùng đánh bạc trị giá 50.000.000đ trở lên) khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xử phạt bị cáo Hồ Thị M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, xử phạt bị cáo T 03 (Ba) năm tù, bị cáo M 10 (Mười) tháng tù là phù hợp.
[3] Xét đơn kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo nhận thấy:
- Đối với bị cáo M: Bản thân bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xử phạt về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự tại bản án số 51/2024/HS-ST ngày 06/3/2024, nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm nên không đủ điều kiện xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp tình tiết mới là giấy xét nghiệm thể hiện bị nhiễm độc cường giáp, do vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Đối với bị cáo T: Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới là Giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình; trong quá trình tại ngoại chấp hành nghiêm quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình nên đã ra tự thú, bản thân bị cáo lần đầu phạm tội, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo và giao cho địa phương giám sát, giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục lao động, chăm sóc gia đình.
[4] Về án phí:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Kháng cáo của các bị cáo T, M được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ; phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đào Duy T và Hồ Thị M; Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 273/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch (do có tình tiết mới).
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Đào Duy T 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (27/3/2025).
Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Hồ Thị M 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành hình phạt tù hoặc bị áp giải thi hành án, được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2024 đến ngày 30/7/2024.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Đào Duy T, Hồ Thị M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Lan Hương |
Bản án số 158/2025/HS-PT ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 158/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo
