Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------------------------------

Bản án số: 158/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30-6-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Thanh Hải

Ông Nguyễn Nam Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 156/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đặng Văn M, sinh năm 1982; nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; nơi ở hiện tại: A1 30C, Nhật Bản; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Phạm Thị M1, sinh năm 1984; nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; nơi ở hiện tại: Tổ M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là anh Đặng Văn M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị M1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn vào tháng 3/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do anh M sang Nhật Bản làm việc, vợ chồng sống xa nhau và thường xảy ra cãi nhau do bất đồng quan điểm sống cũng như cách nuôi dạy con cái. Do xa cách một thời gian dài nên tình cảm vợ chồng không còn, anh chị không liên lạc với nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng khiến cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài. Nay anh M xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị M1.

- Về con chung: Anh và chị M1 có hai con chung là Đặng Thị Mỹ L, sinh ngày 10/12/2007 và Đặng Mai A, sinh ngày 28/7/2017. Ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao hai con Đặng Thị Mỹ L, Đặng Mai A cho chị M1 trực tiếp nuôi. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, bị đơn là chị Phạm Thị M1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đặng Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 3 năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2018 thì anh M sang Nhật Bản làm việc, anh M chỉ quay về Việt Nam một lần vào tháng 8/2024 và quay trở lại Nhật Bản làm việc, vợ chồng sống xa nhau nên thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và nuôi dạy con cái. Do ở xa nhau nên vợ chồng ít liên lạc với nhau, anh chị không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn. Nay anh M có đơn xin ly hôn với chị M1, chị đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Chị và anh M có hai con chung là Đặng Thị Mỹ L, sinh ngày 10/12/2007 và Đặng Mai A, sinh ngày 28/7/2017. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao hai con Đặng Thị Mỹ L, Đặng Mai A cho chị trực tiếp nuôi. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị M1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, anh Đặng Văn M và chị Phạm Thị M1 đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn có nơi ở hiện tại quận K, thành phố Hải Phòng và nguyên đơn đang làm việc tại Nhật Bản. Do vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, anh Đặng Văn M và chị Phạm Thị M1 đều vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện anh Đặng Văn M và chị Phạm Thị M1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/3/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Đặng Văn M và chị Phạm Thị M1 là hôn nhân hợp pháp theo Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống vợ chồng đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do anh M sang Nhật Bản làm việc, vợ chồng sống xa nhau và thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống cũng như cách nuôi dạy con cái. Anh M và chị M1 đều đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh M được ly hôn với chị M1.

[4] Về con chung: Anh Đặng Văn M và chị Phạm Thị M1 có hai con chung là Đặng Thị Mỹ L, sinh ngày 10/12/2007 và Đặng Mai A, sinh ngày 28/7/2017. Xét thấy, trong thời gian anh M làm việc ở nước ngoài, chị M1 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con và hai con đều có nguyện vọng được ở với chị M1. Quá trình giải quyết vụ án, anh chị đều thống nhất thỏa thuận giao hai con cho chị M1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo được mọi quyền lợi của con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Giao hai con tên là Đặng Thị Mỹ L, sinh ngày 10/12/2007 và Đặng Mai A, sinh ngày 28/7/2017 cho chị Phạm Thị M1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử tạm thời không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Anh Đặng Văn M và chị Phạm Thị M1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Đặng Văn M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đặng Văn M, cụ thể:
    • - Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Văn M được ly hôn chị Phạm Thị M1.
    • - Về con chung: Giao hai con tên là Đặng Thị Mỹ L, sinh ngày 10/12/2007 và Đặng Mai A, sinh ngày 28/7/2017 cho chị Phạm Thị M1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử tạm thời không xem xét, giải quyết.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    • - Về tài sản chung: Anh Đặng Văn M và chị Phạm Thị M1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Đặng Văn M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001328 ngày 30 tháng 5 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn anh Đặng Văn M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Bị đơn chị Phạm Thị M1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (ĐKKH ngày 16/3/2007);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu Hà

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 158/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: M-M ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger