|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG Bản án số: 158/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20/6/2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Ly;
- 2. Bà Đào Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 293/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 301/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Dương Văn N, sinh năm 1990; địa chỉ: tổ H, ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt);
- Bị đơn: Bà Trương Thị Ngọc M, sinh năm 1992; địa chỉ: tổ B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và các biên bản hòa giải, Nguyên đơn ông Dương Văn N trình bày:
Ông và bà Trương Thị Ngọc M chung sống với nhau năm 2013, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, hôn nhân do tìm hiểu. Khi chung sống cùng nhau vợ chồng đi làm tại Bình Dương, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân về kinh tế nên vợ chồng hay cự cãi không hợp nhau, nên ông về nhà mẹ ruột sinh sống năm 2016, vợ chồng không còn chung sống từ 2016 cho đến nay. Gia đình hai bên không hàn gắn, nay nhận thấy tình cảm không còn, ông yêu cầu ly hôn với bà Trương Thị Ngọc M; Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Dương Văn D, sinh ngày 10/12/2014, hiện con chung đang sống chung với ông N. Khi ly hôn ông yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Trương Thị Ngọc M được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bà M vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Dương Văn N đối với bà Trương Thị Ngọc M.
- Ông Dương Văn N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Dương Văn D, sinh ngày 10/12/2014. Bà Trương Thị Ngọc M không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ông Dương Văn N yêu cầu ly hôn với bà Trương Thị Ngọc M, bà M có nơi cư trú ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Nguyên đơn ông Dương Văn N có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Trương Thị Ngọc M được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên là phù hợp.
[3] Ông Dương Văn N yêu cầu ly hôn với bà Trương Thị Ngọc M. Ông N và bà M có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo ông N trình bày, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do mâu thuẫn về kinh tế nên vợ chồng hay cự cãi không hợp nhau, nên ông về nhà mẹ ruột sinh sống năm 2016, vợ chồng không còn chung sống từ 2016 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc ông N yêu cầu ly hôn và triệu tập bà M tham gia các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng bà M vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của ông N. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa ông N và bà M đã diễn ra trong thời gian dài, nguyên nhân do mâu thuẫn về kinh tế, vợ chồng thường cự cãi, ông N về nhà mẹ ruột sinh sống nên vợ chồng không còn chung sống từ năm 2016. Trong thời gian này, hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau cũng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N là phù hợp theo quy định pháp luật.
[4] Về quan hệ con chung: Ông N xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Dương Văn D, sinh ngày 10/12/2014, hiện cháu D1 đang chung sống với ông. Khi ly hôn ông N yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con. Tòa án tiến hành ghi nhận ý kiến cháu D, nguyện vọng của cháu muốn sống chung với ông N. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, cháu D do ông N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng và trong quá trình giải quyết bà M cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu này của ông N. Do đó, để ông N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D là phù hợp với pháp luật.
[5] Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do ông N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết;
[6] Về quan hệ tài sản chung: Ông N xác định không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[7] Về quan hệ nợ chung: Ông N xác định không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[8] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn N đối với bà Trương Thị Ngọc M.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Dương Văn N được ly hôn với bà Trương Thị Ngọc M.
- Về quan hệ con chung: Ông Dương Văn N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Dương Văn D, sinh ngày 10/12/2014. Bà Trương Thị Ngọc M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Dương Văn N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Trương Thị Ngọc M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về quan hệ tài sản chung: Không có.
- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc ông Dương Văn N xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì ông Dương Văn N và bà Trương Thị Ngọc M phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Dương Văn N phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0024345 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 25 tháng 3 năm 2025. Ông Dương Văn N đã nộp đủ.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thư |
Bản án số 158/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 158/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông yêu cầu ly hôn với bà Trương Thị Ngọc M; Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Dương Văn D, sinh ngày 10/12/2014, hiện con chung đang sống chung với ông N. Khi ly hôn ông yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
