Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 158/2025/DS-ST

Ngày: 27 - 5 - 2025

V/v “Tranh chấp chia thừa kế”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Đông;

Bà Nguyễn Thị Ngọc Thuý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phương Thủy là Thư ký Tòa án nhân

dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 193/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2025/QĐXXST-DS ngày 10/4/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 102/2025/QĐST-DS ngày 29/4/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Hồ Văn D, sinh năm 1978.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng T, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Số nhà A A, thành phố B, Đắk Lắk.

* Bị đơn: Ông Hồ Minh T1, sinh năm 1953.

Địa chỉ: Số nhà G T, khu V, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Hồ Minh T2, sinh năm 1983;
  2. Chị Võ Thị Mỹ D1, sinh năm 1988;
  3. Cùng địa chỉ: Tổ B, khu V, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

  4. Anh Hồ Minh L, sinh năm 1981;
  5. Chị Nguyễn Đức T3;
  6. Anh Hồ Minh M;
  7. Anh Hồ Minh T4;
  8. Anh Hồ Minh L1;
  9. Cùng địa chỉ: Số nhà D đường A tháng E, khu V, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

  10. Chị Nguyễn Thị T5, sinh năm 1978;
  11. Anh Hồ Minh T6, sinh năm 2002.
  12. Cùng địa chỉ: G T, khu V, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

(Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Đặng T có mặt; Bị đơn ông Hồ Minh T1 có mặt; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Hồ Minh T2 vắng mặt; Chị Võ Thị Mỹ D1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; Anh Hồ Minh L, chị Nguyễn Đức T3, anh Hồ Minh M, anh Hồ Minh T4, anh Hồ Minh L1 vắng mặt, chị Nguyễn Thị T5 có đơn xin vắng mặt, anh Hồ Minh T6 có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*/ Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hồ Văn D ủy quyền cho ông Đặng Tiến trình B:

Cha ông Hồ Văn D là ông Hồ Minh T1, mẹ là bà Nguyễn Thị K. Cha mẹ ông sinh 03 người con là: Hồ Văn D, Hồ Minh L và Hồ Minh T2. Ngày 04/5/2021 mẹ ông là bà Nguyễn Thị K chết không để lại di chúc. Ông ngoại là Nguyễn S (chết năm 2011), bà ngoại là Huỳnh Thị M1 (chết năm 2003). Khi bà K còn sống vợ chồng bà K, ông T1 tạo lập được tài sản gồm:

  1. Nhà và đất tại thửa đất số 245, tờ bản đồ số 64, diện tích 38,04m², nhà 03 tầng tọa lạc tại Tổ 32, KV6, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: 3701030204 cấp ngày 13/8/1998 đứng tên ông Hồ Minh T1 và bà Nguyễn Thị K;

  2. Nhà và đất tại thửa đất số 364, tờ bản đồ số 77, diện tích 221,9m² đất ở đô thị, 90m² đã được xây nhà 03 tầng, tọa lạc tại: Tổ B, KV5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CT737833 cấp ngày 17/3/2020 đứng tên ông Hồ Minh T1 và bà Nguyễn Thị K;

  3. Nhà và đất tại thửa đất số 362, tờ bản đồ số 77, diện tích 67,6m² đã được xây nhà 02 tầng, tọa lạc tại: Tổ B, KV5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CT737831 cấp ngày 17/3/2020 đứng tên ông Hồ Minh T1 và bà Nguyễn Thị K.

Về giá trị tài sản nguyên đơn thống nhất theo Biên bản định giá ngày 13/8/2024.

Nay nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế tài sản do mẹ ông D là bà Nguyễn Thị K chết để lại đối với 03 ngôi nhà và đất như trên theo quy định pháp luật. Tại phiên Tòa người đại diện theo ủy quyền khai nếu bị đơn đồng ý thì bên ông D nhận chia thừa kế theo kỷ phần tính thành tiền là 1 tỷ 8 trăm triệu đồng, nếu không đồng ý thì yêu cầu nhận tài sản là ngôi nhà ông Hồ Minh T1 đang ở.

*/ Bị đơn Ông Hồ Minh T1 khai: Vợ ông là bà Nguyễn Thị K. Ngày 04/5/2021 bà K chết, không để lại di chúc. Cha bà K là ông Nguyễn S (chết năm 2011) và mẹ là bà Huỳnh Thị M1 (chết năm 2003). Vợ chồng ông sinh 03 người con là Hồ Văn D, Hồ Minh T2 và Hồ Minh L.

Tài sản của vợ chồng ông gồm:

  1. Nhà và đất tại thửa đất số 245, tờ bản đồ số 64, diện tích 38,04m², nhà 03 tầng tọa lạc tại: Tổ C, KV6, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: 3701030204 cấp ngày 13/8/1998 đứng tên ông Hồ Minh T1 và bà Nguyễn Thị K, nhà này hiện nay ông đang quản lý, sử dụng;

  2. Nhà và đất tại thửa đất số 364, tờ bản đồ số 77, diện tích 221,9m² đất ở đô thị, 90m² đã được xây nhà 03 tầng, tọa lạc tại: Tổ B, KV5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CT737833 cấp ngày 17/3/2020 đứng tên ông Hồ Minh T1 và bà Nguyễn Thị K, nhà này hiện nay ông Hồ Minh L đang quản lý, sử dụng;

  3. Nhà và đất tại thửa đất số 362, tờ bản đồ số 77, diện tích 67,6m², đã được xây nhà 02 tầng, tọa lạc tại: Tổ B, KV5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CT737831 cấp ngày 17/3/2020 đứng tên ông Hồ Minh T1 và bà Nguyễn Thị K, nhà này hiện nay ông Hồ Minh T2 đang quản lý, sử dụng.

Nay nguyên đơn ông Hồ Văn D yêu cầu chia thừa kế tài sản do mẹ ông D là bà Nguyễn Thị K chết để lại đối với 03 ngôi nhà và đất như trên theo quy định pháp luật, ông không đồng ý vì khi cha ông (là ông Hồ T7) còn sống, cha ông đã cho ông Hồ Văn D 01 ngôi nhà toạ lạc tại số D đường A tháng E, tổ B, khu V, phường Đ, TP . (hiện nay ông D đã bán), còn lại 03 tài sản trên vợ chồng ông để cho các con là ông Hồ Minh T2 và ông Hồ Minh L chưa có chỗ ở, còn lại ngôi nhà tại hẻm G T, TP . sau này cho cháu nội ông (là anh Hồ Minh T6, con ruột của ông D).

Ngoài ra, ông trình bày kể từ hôm nay ông không xem Hồ Văn D là con của ông, việc ông D yêu cầu chia thừa kế tài sản của mẹ là bà K để lại, ông yêu cầu bán hết tài sản rồi chia thừa kế theo quy định pháp luật.

*/ Tại Bản khai ngày 18/7/2023 và tại biên bản đối chất ngày 27/10/2023, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hồ Minh T2, khai: Anh thống nhất như lời khai của cha anh là ông Hồ Minh T1 đã khai về hàng thừa kế và tài sản do mẹ anh chết để lại, anh thống nhất không đồng ý chia thừa kế như yêu cầu của ông Hồ Văn D. Theo nguyện vọng của mẹ anh khi còn sống: Thửa đất 245, tờ bản đồ 64 là nhà cha mẹ ở; Thửa đất 364, tờ bản đồ 77 là đất giao cho anh Hồ Minh L; Thửa đất 362, tờ bản đồ 77 giao cho anh Hồ Minh T2; Thửa đất do ông nội đã cho anh Hồ Văn D nhận và hiện nay anh D đã bán. Tại phiên toà hôm nay, anh T2 vắng mặt.

*/ Tại Bản khai ngày 18/7/2023 và tại biên bản đối chất ngày 27/10/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Minh L khai: Anh thống nhất như lời khai của cha anh là ông Hồ Minh T1 đã khai về hàng thừa kế và tài sản do mẹ anh chết để lại, anh thống nhất không đồng ý chia thừa kế như yêu cầu của ông Hồ Văn D. Theo nguyện vọng của mẹ anh khi còn sống: Thửa đất số 245, tờ bản đồ 64 là nhà cha mẹ ở; Thửa đất 364 tờ bản đồ số 77 giao cho anh Hồ Minh L; Thửa 362 tờ bản đồ 77 giao cho anh Hồ Minh T2; Thửa đất do ông nội đã cho ông Hồ Văn D nhận và hiện nay ông D đã bán cho người khác. Đối với 02 thửa đất cha mẹ cho anh và anh T2, chưa kịp sang tên thì mẹ anh bị tai nạn chết. Ông Hồ Văn D đã bỏ nhà đi từ lúc 13 tuổi khi gia đình còn khó khăn, không có đóng góp gì vào tài sản của cha mẹ. Tại phiên toà hôm nay, anh L vắng mặt.

*/ Tại Bản khai ngày 25/02/2025 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Thị Mỹ D1 khai: Chị kết hôn với anh Hồ Minh T2 vào tháng 5/2023. Sau khi kết hôn, chị và anh T2 sống tại ngôi nhà tọa lạc tại tổ B, khu V, phường Đ, thành phố Q, nguồn gốc nhà và đất này là của cha mẹ cho anh Hồ Minh T2 từ năm 2020, trước khi kết hôn với chị, việc anh Hồ Văn D yêu cầu chia thừa kế, chị không có yêu cầu gì. Tại phiên toà hôm nay chị D1 có đơn xin xét xử vắng mặt.

*/ Tại Bản khai ngày 18/3/2025 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T5 khai: Chị là người vợ trước của ông Hồ Văn D, hiện nay không còn là vợ của ông D, vì điều kiện hoàn cảnh khó khăn nên chị còn ở chung với gia đình ông D tại ngôi nhà G T, thành phố Q, ngôi nhà này là của ông Hồ Minh T1 và bà Nguyễn Thị K. Bà K chết năm 2021, việc anh D tranh chấp chia thừa kế tài sản của ông T1 và bà K chị không có ý kiến hay yêu cầu gì. Tại phiên toà hôm nay chị T5 có đơn xin xét xử vắng mặt.

*/ Tại bản khai ngày 18/3/2025 và tại phiên toà hôm nay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hồ Minh T6 khai: Anh là con của ông Hồ Văn D và bà Nguyễn Thị T5, hiện nay anh đang sống tại ngôi nhà G T, thành phố Q. Đây là tài sản của ông bà nội anh, anh không có ý kiến hay tranh chấp gì.

*/ Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Đức T3, cháu Hồ Minh M, cháu Hồ Minh T4, cháu Hồ Minh L1 trong quá trình giải quyết vụ án đã được toà án triệu tập hợp lệ để tham gia các phiên họp hoà giải, công khai chứng cứ nhưng đều vắng mặt. Tại phiên toà hôm nay những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên được toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử Nghị án là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (gồm chị Nguyễn Thị T5, anh Hồ Minh T6, chị Võ Thị Mỹ D1) thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ( gồm anh Hồ Minh L, anh Hồ Minh T2, chị Nguyễn Đức T3, cháu Hồ Minh M, Hồ Minh T4, Hồ Minh L1) chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 73 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Hướng giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự; Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị HĐXX:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn D. Chia thừa kế theo pháp luật đối với đối với các di sản do bà Nguyễn Thị K để lại, ông Hồ Minh T1, ông Hồ Văn D, anh Hồ Minh T2, anh Hồ Minh L mỗi người nhận 1.765.836.500 đồng giá trị kỷ phần do bà Nguyễn Thị K để lại. Theo đó:

  • Ông Hồ Minh T1 được nhận nhà và đất tại thửa đất số 245, tờ bản đồ số 64, diện tích 38,04m², nhà 03 tầng tọa lạc tại Tổ 32, KV6, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào sổ cấp GCN 3701030204 cấp ngày 13/8/1998 đứng tên bà Ngô Thị K1, chuyển quyền sở hữu cho ông Hồ Minh T1, bà Nguyễn Thị K ngày 17/8/1998.

  • Anh Hồ Minh L được nhận nhà và đất tại thửa đất số 364, tờ bản đồ số 77, diện tích 221,9m² đất ở đô thị, 90m² đã được làm nhà 03 tầng, tọa lạc tại Tổ 27, KV5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CT737833 ngày 17/3/2020 đứng tên ông Hồ Minh T1, bà Nguyễn Thị K. Anh Hồ Văn L2 có nghĩa vụ thối lại cho ông Hồ Văn D 1.765.836.500 đồng, thối lại cho ông Hồ Minh T1 6.520.234.000 đồng.

  • Anh Hồ Minh T2 được nhận nhà và đất tại thửa đất số 362, tờ bản đồ số 77, diện tích 97,6m² đã được làm nhà 02 tầng, tọa lạc tại Tổ B, KV5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CT737831 cấp ngày 17/3/2020 đứng tên ông Hồ Minh T1, bà Nguyễn Thị K. Anh Hồ Minh T2 thối lại cho ông Hồ Minh T1 số tiền 1.190.167.500 đồng.

Ông Hồ Minh T1 được miễn án phí, còn những đương sự khác phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Hồ văn D yêu cầu khởi kiện bị đơn ông Hồ Minh T1 chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị K chết để lại, nên quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp chia thừa kế” thuộc trường hợp tranh chấp về dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Võ Thị Mỹ D1, chị Nguyễn Thị T5 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; Anh Hồ Minh T2, anh Hồ Minh L, chị Nguyễn Đức T3, cháu Hồ Minh M, cháu Hồ Minh T4, cháu Hồ Minh L1 được toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Về thời hiệu người thừa kế yêu cầu chia di sản: Căn cứ theo khoản 1 Điều 611 của Bộ luật Dân sự năm 2015 “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết”. Vợ ông Hồ Minh T1 là bà Nguyễn Thị K chết ngày 04/5/2021 không để lại di chúc, nên thời điểm mở thừa kế tính từ ngày 04/5/2021. Ngày 31/5/2023, nguyên đơn yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị K là trong thời hiệu khởi kiện theo Điều 623 BLDS năm 2015.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[4.1] Về hàng thừa kế:

Các đương sự đều thống nhất ông Hồ Minh T1 cùng vợ là bà Nguyễn Thị K có 03 người con là Hồ Văn D, Hồ Minh L và Hồ Minh T2. Ngày 04/5/2021, bà Nguyễn Thị K chết, không để lại di chúc. Cha của bà K là ông Nguyễn S (Chết năm 2011), mẹ bà K là bà Huỳnh Thị M1 (chết năm 2003). Do đó, ông Hồ Minh T1, ông Hồ Văn D, anh Hồ Minh L, anh Hồ Minh T2 là hàng thừa kế thứ nhất của bà K theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự.

[4.2] Về di sản thừa kế và chia di sản thừa kế:

*/ Về di sản thừa kế:

Khi bà K còn sống, vợ chồng ông T1, bà K tạo lập được tài sản gồm:

  • Nhà và đất tại thửa đất số 245, tờ bản đồ số 64, diện tích 38,04m², nhà 03 tầng tọa lạc tại Tổ 32, KV6, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào sổ cấp GCN 3701030204 cấp ngày 13/8/1998 đứng tên bà Ngô Thị K1, chuyển quyền sở hữu cho ông Hồ Minh T1, bà Nguyễn Thị K ngày 17/8/1998;

  • Nhà và đất tại thửa đất số 364, tờ bản đồ số 77, diện tích 221,9m² đất ở đô thị, 90m² đã được xây nhà 03 tầng, tọa lạc tại Tổ B, KV5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CT737833 ngày 17/3/2020 đứng tên ông Hồ Minh T1, bà Nguyễn Thị K;

  • Nhà và đất tại thửa đất số 362, tờ bản đồ số 77, diện tích 97,6m² đã được xây nhà 02 tầng, tọa lạc tại Tổ B, KV5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CT737831 cấp ngày 17/3/2020 đứng tên ông Hồ Minh T1, bà Nguyễn Thị K.

Xét thấy, những tài sản trên là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên căn cứ Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình, 03 nhà và đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng ông Hồ Minh T1, bà Nguyễn Thị K. Do đó, căn cứ Điều 612 Bộ luật Dân sự, di sản của bà Nguyễn Thị K để lại là ½ giá trị của 03 nhà và đất nêu trên.

Theo Biên bản định giá tài sản ngày 13/8/2024:

  • Giá trị nhà và đất tại thửa đất số 245, tờ bản đồ số 64 là: (30.000.000 đồng/m² x 38,04m²) + 427.581.000 đồng = 1.568.781.000 đồng.

  • Giá trị nhà và đất tại thửa đất số 362, tờ bản đồ số 77 là: (30.000.000 đồng/m² x 68,65m²) + 896.504.000 đồng = 2.956.004.000 đồng.

  • Giá trị nhà và đất tại thửa đất số 364, tờ bản đồ số 77 là: (40.000.000 đồng/m² x 236,2m²) + 443.895.000 đồng + 160.012.000 đồng = 10.051.907.000 đồng.

Căn cứ vào lời khai của các đương sự và tài liệu chứng cứ thu thập được xác định, hiện nhà và đất tại thửa đất số 362 do anh Hồ Minh T2 quản lý, sử dụng từ năm 2020; Nhà và đất tại thửa đất số 364 do anh Hồ Minh L quản lý, sử dụng từ năm 2000. Do đó phải tính công sức đóng góp, tu sửa tài sản của anh T2 và L. Cụ thể: Anh Hồ Minh L là 300.000.000 đồng, còn anh Hồ Minh T2 là 150.000.000 đồng.

Vậy, tổng cộng giá trị nhà và đất (tài sản chung của vợ chồng ông Hồ Minh T1, bà Nguyễn Thị K) là:

14.576.692.000 đồng – (300.000.000 đồng + 150.000.000 đồng) = 14.126.692.000 đồng.

Do đó, di sản thừa kế mà bà Nguyễn Thị K để lại có giá trị là: 14.126.692.000 đồng : 2 = 7.063.346.000 đồng.

*/ Về chia di sản thừa kế:

Xét thấy đối với di sản của bà Nguyễn Thị K chết để lại có 04 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm ông Hồ Minh T1, ông Hồ Văn D, anh Hồ Minh L, anh Hồ Minh T2 nên mỗi kỷ phần thừa kế theo pháp luật sẽ là: 7.063.346.000 đồng : 4 = 1.765.836.500 đồng.

Xét thấy, nhà và đất tại thửa đất 364 hiện vợ chồng anh Hồ Minh L sinh sống, quản lý; Nhà và đất tại thửa đất 362 hiện vợ chồng anh Hồ Minh T2 sinh sống, quản lý; Nhà và đất tại thửa đất số 245 hiện do ông Hồ Minh T1 đang sinh sống, quản lý. Do đó, sau khi chia kỷ phần thừa kế, giao nhà và đất tại thửa đất 245 cho ông Hồ Minh T1 tiếp tục quản lý, sử dụng; Nhà và đất tại thửa đất 362 cho anh Hồ Minh T2 quản lý, sử dụng; Nhà và đất tại thửa đất 364 cho anh Hồ Minh L quản lý, sử dụng. Anh Hồ Minh L có trách nhiệm thối lại cho ông Hồ Văn D 1.765.836.500 đồng, thối lại cho ông Hồ Minh T1 6.520.234.000 đồng. Anh Hồ Minh T2 thối lại cho ông Hồ Minh T1 số tiền 1.190.167.500 đồng.

Đối với phần trình bày của bị đơn ông Hồ Minh T1 rằng ông không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của ông D vì khi cha ông là Hồ T7 còn sống đã cho Hồ Văn D 01 ngôi nhà tại số D đường A, tổ B, KV5, P. Đ, TP ., ông D đã bán nhà này. Hiện 03 tài sản liệt kê trên vợ chồng ông để lại cho con là Hồ Minh T2 và Hồ Minh L, chưa có chỗ ở. Ngôi nhà tại hẻm G T sau này cho cháu nội tên Hồ Minh T6 (con ruột D).

Xét thấy, việc cha ông là ông Hồ T7 cho ông Hồ Văn D 01 ngôi nhà đó là giao dịch dân sự giữa ông Hồ T7 và ông Hồ Văn D, không liên quan đến việc chia thừa kế do bà Nguyễn Thị K để lại. Tài sản là 03 nhà và đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng tạo lập, nên phần trình bày của ông Hồ Minh T1 không đồng ý chia theo yêu cầu của ông D là không phù hợp với quy định pháp luật chia thừa kế nên HĐXX không chấp nhận.

Đối với phần trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Minh L, Hồ Minh T2 bỏ tiền ra sửa chữa cho nhà trên thửa đất 362, 364 nhưng quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết, anh L, anh T2 không cung cấp các tài liệu chứng minh đối với phần trình bày của mình nên không có căn cứ để xem xét, giải quyết.

Tại Biên bản định giá tài sản, bị đơn ông Hồ Minh T1, anh Hồ Minh L, anh Hồ Minh T2 không đồng ý với giá trị đất theo thị trường của hội đồng định giá. Tại phiên tòa, ông T1 thống nhất với Biên bản định giá tài sản.

[6] Về án phí DSST: Căn cứ quy định tại Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án đương sự phải chịu án phí như sau:

  • Ông Hồ Minh T1 thuộc diện người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm;

  • Anh Tài, anh L và anh D mỗi người phải chịu: 64.975.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tổng cộng: 30.300.000 đồng, nguyên đơn đã nộp tạm ứng tại tòa án. Căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự, do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên mỗi người phải chịu 30.300.000đ/4 = 7.575.000 đồng. Do đó, ông T1, anh L và anh T2 mỗi người hoàn trả cho anh D 7.575.000 đồng.

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; khoản 1 Điều 227; khoản 1, 2 Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn D. Chia thừa kế theo pháp luật đối với các di sản do bà Nguyễn Thị K để lại, ông Hồ Minh T1, ông Hồ Văn D, anh Hồ Minh T2, anh Hồ Minh L mỗi người nhận 1.765.836.500 đồng giá trị kỷ phần do bà Nguyễn Thị K để lại.

  2. Ông Hồ Minh T1 được nhận nhà và đất tại thửa đất số 245, tờ bản đồ số 64, diện tích 38,04m², nhà 03 tầng tọa lạc tại Tổ 32, KV6, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào sổ cấp GCN 3701030204 cấp ngày 13/8/1998 đứng tên bà Ngô Thị K1, chuyển quyền sở hữu cho ông Hồ Minh T1, bà Nguyễn Thị K ngày 17/8/1998.

  3. Anh Hồ Minh L được nhận nhà và đất tại thửa đất 364, tờ bản đồ 77, diện tích 221,9m² đất ở đô thị, 90m² đã được làm nhà 03 tầng, tọa lạc tại Tổ 27, KV5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CT737833 ngày 17/3/2020 đứng tên ông Hồ Minh T1, bà Nguyễn Thị K. Anh Hồ Văn L2 có nghĩa vụ thối lại cho ông Hồ Văn D 1.765.836.500 đồng, thối lại cho ông Hồ Minh T1 6.520.234.000 đồng.

  4. Anh Hồ Minh T2 được nhận nhà và đất tại thửa đất 362, tờ bản đồ 77, diện tích 97,6m² đã được làm nhà 02 tầng, tọa lạc tại Tổ B, KV5, P. Đ, TP ., tỉnh Bình Định, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN CT737831 cấp ngày 17/3/2020 đứng tên ông Hồ Minh T1, bà Nguyễn Thị K. Anh Hồ Minh T2 thối lại cho ông Hồ Minh T1 số tiền 1.190.167.500 đồng.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    1. Ông Hồ Minh T1 được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    2. Ông Hồ Văn D phải chịu 64.975.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông D đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 36.000.000 đồng theo biên lai số 0004030 ngày 03/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn. Do đó, ông D còn phải nộp 28.975.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    3. Anh Hồ Minh T2 phải chịu 64.975.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    4. Anh Hồ Minh L phải chiu 64.975.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Về chi phí tố tụng: Ông D đã nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tổng cộng: 30.300.000 đồng. Vì vậy, ông T1, anh T2, anh L mỗi người có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Danh số tiền 7.575.000 đồng tiền xem xét, định giá tài sản và đo đạc tài sản tranh chấp.

  7. Về quyền và nghĩa vụ thi hành án:

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015.

    Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  8. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự.
  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND TP. Quy Nhơn;
  • - Lưu HS

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn Tài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2025/DS-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp chia thừa kế

  • Số bản án: 158/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Văn D - Hồ Minh Th
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger