|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 158/2025/DS - ST
Ngày: 20 - 6 - 2025
V/v “Tranh chấp hụi”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Anh Dũng.
Bà Phạm Thị Nguyệt Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy– Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 638/2017/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2017 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1363/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị V, sinh năm 1965.
- Địa chỉ: Số B, khu C, ấp A, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Triệu Quốc Đ, sinh năm 1983. (Văn bản ủy quyền ngày 08/9/2017).
- Địa chỉ: Số G (số G cũ), Hưng Đạo V1, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1982.
- Địa chỉ: G, khu C, ấp A, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Địa chỉ hiện nay: Chung cư T, G7, khu C, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Ông Đ có mặt; bà X vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ, nguyên đơn bà Trần Thị V do ông Triệu Quốc Đ đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà Trần Thị V là chủ hụi, từ tháng 10 năm 2014 bà Nguyễn Thị X tham gia chơi hụi do bà Trần Thị V làm chủ, cụ thể như sau:
Dây hụi thứ nhất: Bắt đầu ngày 05/10/2014 đến ngày 05/02/2017 kết thúc, gồm 28 phần, mỗi phần đóng hụi 2.000.000 đồng, bà X tham gia một phần.
Vào tháng 01 năm 2015 bà X hốt hụi, bà X đóng hụi đến hết tháng 01 năm 2016 thì ngưng không đóng nữa, bà X đóng được 15 phần, bà X còn nợ 13 phần hụi tương ứng với số tiền: 13 x 2.000.000 = 26.000.000 đồng.
Dây hụi thứ hai: Bắt đầu ngày 15/12/2014 đến ngày 15/4/2017 kết thúc, gồm 28 phần, mỗi phần đóng hụi 1.000.000 đồng, bà X tham gia một phần.
Vào tháng 3 năm 2015 bà X hốt hụi, bà X đóng hụi đến tháng 01 năm 2016 thì ngưng không đóng nữa, bà X đóng được 14 tháng, bà X còn nợ 14 phần hụi tương ứng với số tiền: 14 x 1.000.000 đồng = 14.000.000 đồng.
Dây hụi thứ ba (bà X tham gia 02 phần):
- Bắt đầu ngày 20/7/2015 đến ngày 20/10/2017 kết thúc, gồm 27 phần, mỗi phần đóng hụi 5.000.000 đồng, bà X tham gia một phần.
- Vào tháng 9 năm 2015 bà X hốt hụi. Bà X đóng hụi đến hết tháng 02 năm 2016 thì ngưng không đóng nữa, bà X đóng được 08 phần, bà X còn nợ 19 phần hụi tương ứng với số tiền: 19 x 5.000.000 đồng = 95.000.000 đồng.
- Bắt đầu ngày 20/7/2015 đến ngày 20/10/2017 kết thúc, gồm 27 phần, mỗi phần đóng hụi 5.000.000 đồng, bà X tham gia một phần.
- Vào tháng 9 năm 2015 bà X hốt hụi, bà X đóng hụi đến hết tháng 02 năm 2016 thì ngưng không đóng nữa, bà X đóng được 08 phần, bà X còn nợ 19 phần hụi tương ứng với số tiền: 19 x 5.000.000 đồng = 95.000.000 đồng.
Tổng số tiền hụi bà X còn nợ bà Trần Thị V là: 26.000.000 đồng + 14.000.000 đồng + 95.000.000 đồng + 95.000.000 đồng = 230.000.000 đồng.
Ngày 17/8/2022 bà Trần Thị V yêu cầu bà Nguyễn Thị X phải trả dây hụi thứ ba số tiền hụi 190.000.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay tôi đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị V yêu cầu bà Nguyễn Thị X phải trả cho bà Trần Thị V số tiền hụi còn nợ là 190.000.000 đồng (Một trăm chín mươi triệu đồng).
- Theo bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ, bị đơn bà Nguyễn Thị X trình bày:
Bà Nguyễn Thị X trình bày bà không đồng ý với yêu cầu trả cho bà Trần Thị V số tiền 230.000.000 đồng vì bà chỉ tham gia chơi hụi với bà Trần Thị V chỉ có 01 dây hụi, bắt đầu từ ngày 20/7/2015 (đến ngày 25/7/2015 bà X mới bắt đầu đóng hụi), kết thúc ngày nào không nhớ, dây hụi gồm 27 phần, bà X chơi 01 phần hụi trong dây hụi này, mỗi phần hụi đóng 5.000.000 đồng. Dây hụi này bà đã đóng được 08 phần hụi mỗi tháng đóng hụi vào ngày 25 hàng tháng, tương ứng 8 x 5.000.000 đồng = 40.000.000 đồng. Khoảng 04 tháng sau bà X hốt hụi vào ngày 20/11/2015, bà hốt hụi được 80.000.000 đồng. Theo bà, dây hụi này bà còn nợ bà Trần Thị V 40.000.000 đồng (vì bà X đã đóng hụi 40.000.000 đồng, hốt hụi 80.000.000 đồng). Nay bà xác định bà còn nợ bà Trần Thị V 40.000.000 đồng.
Ý kiến Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn tham gia phiên tòa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án:
Tại phiên tòa hôm nay ông Triệu Quốc Đ đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị V yêu cầu bà Nguyễn Thị X phải trả cho bà Trần Thị V số tiền hụi còn nợ là 190.000.000 đồng (Một trăm chín mươi triệu đồng).
Xét các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp tờ dơi 1, dây 2, 3 hội 1.000.000, hội 2.000.000, các chứng cứ không ghi rõ nội dung vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị V không có chứng cứ theo quy định tại Điều 93, Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thừa nhận nợ hụi theo yêu cầu của nguyên đơn, bà X chỉ thừa nhận số tiền 40.000.000 đồng. Do đó, có căn cứ buộc bà X trả cho bà V số tiền nợ hụi 40.000.000 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị V về việc “Tranh chấp hụi” với bà Nguyễn Thị X.
Buộc bà với bà Nguyễn Thị X phải trả cho bà Trần Thị V tiền hụi là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị V đối với yêu cầu buộc bị đơn bà Nguyễn Thị X tiền hụi là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).
Về án phí:
Bà Nguyễn Thị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Trần Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngày 08/9/2017 nguyên đơn bà Trần Thị V có văn bản ủy quyền cho ông Triệu Quốc Đ tham gia tố tụng việc ủy quyền đúng quy định của pháp luật, nên chấp nhận.
Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã tiến hành thủ tục niêm yết thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn bà Nguyễn Thị X đến Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa theo quy định pháp luật nhưng bà Nguyễn Thị X vẫn vắng mặt nên căn cứ theo khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị X.
[2] Về nội dung vụ án:
Theo bà Trần Thị V trình bày: Bà Trần Thị V là chủ hụi, từ tháng 10 năm 2014 bà Nguyễn Thị X tham gia chơi hụi do bà Trần Thị V làm chủ, cụ thể như sau:
Dây hụi thứ nhất: Bắt đầu ngày 05/10/2014 đến ngày 05/2/2017 kết thúc, gồm 28 phần, mỗi phần đóng hụi 2.000.000 đồng, bà X tham gia một phần.
Vào tháng 01 năm 2015 bà X hốt hụi, bà X đóng hụi đến hết tháng 01/2016 thì ngưng không đóng nữa, bà X đóng được 15 phần, bà X còn nợ 13 phần hụi tương ứng với số tiền: 13 x 2.000.000 = 26.000.000 đồng.
Dây hụi thứ hai: Bắt đầu ngày 15/12/2014 đến ngày 15/4/2017 kết thúc, gồm 28 phần, mỗi phần đóng hụi 1.000.000 đồng, bà X tham gia một phần.
Vào tháng 3 năm 2015 bà X hốt hụi, bà X đóng hụi đến tháng 01 năm 2016 thì ngưng không đóng nữa, bà X đóng được 14 tháng, bà X còn nợ 14 phần hụi tương ứng với số tiền: 14 x 1.000.000 đồng = 14.000.000 đồng.
Dây hụi thứ ba (bà X tham gia 02 phần):
Bắt đầu ngày 20/7/2015 đến ngày 20/10/2017 kết thúc, gồm 27 phần, mỗi phần đóng hụi 5.000.000 đồng, bà X tham gia một phần. Tháng 9 năm 2015 bà X hốt hụi, bà X đóng hụi đến hết tháng 02 năm 2016 thì ngưng không đóng nữa, bà X đóng được 08 phần, bà X còn nợ 19 phần hụi với số tiền: 19 x 5.000.000 đồng = 95.000.000 đồng.
Bắt đầu ngày 20/7/2015 đến ngày 20/10/2017 kết thúc, gồm 27 phần, mỗi phần đóng hụi 5.000.000 đồng, bà X tham gia một phần.
Vào tháng 9 năm 2015 bà X hốt hụi, bà X đóng hụi đến hết tháng 02 năm 2016 thì ngưng không đóng nữa, bà X đóng được 08 phần, bà X còn nợ 19 phần hụi với số tiền: 19 x 5.000.000 đồng = 95.000.000 đồng.
Tổng số tiền hụi bà X còn bà Trần Thị V là: 26.000.000 đồng + 14.000.000 đồng + 95.000.000 đồng + 95.000.000 đồng = 230.000.000 đồng.
Ngày 17/8/2022 bà Trần Thị V yêu cầu bà Nguyễn Thị X phải trả dây hụi thứ ba số tiền hụi 190.000.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay ông Triệu Quốc Đ đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị V yêu cầu bà Nguyễn Thị X phải trả cho bà Trần Thị V số tiền hụi còn nợ là 190.000.000 đồng (Một trăm chín mươi triệu đồng).
Theo bà Nguyễn Thị X trình bày: Bà X chỉ tham gia chơi hụi với bà Trần Thị V có 01 dây hụi, bắt đầu từ ngày 20/7/2015 đến ngày 25/7/2015 bà X mới bắt đầu đóng hụi, kết thúc dây hụi ngày nào bà không nhớ, dây hụi gồm 27 phần, bà X chơi 01 phần hụi trong dây hụi này, mỗi phần hụi đóng 5.000.000 đồng. Dây hụi này bà đã đóng được 08 phần hụi mỗi tháng đóng hụi vào ngày 25 hàng tháng, tương ứng 08 x 5.000.000 đồng = 40.000.000 đồng. Khoảng 04 tháng sau bà X hốt hụi vào ngày 20/11/2015, bà hốt hụi được 80.000.000 đồng, dây hụi này bà còn nợ bà Trần Thị V số tiền 40.000.000 đồng (vì bà đã đóng hụi 40.000.000 đồng, hốt hụi 80.000.000 đồng). Bà xác định bà còn nợ tiền hụi bà Trần Thị V số tiền 40.000.000 đồng.
Xét các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn bà Trần Thị V cung cấp cho Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa trong quá trình giải quyết vụ án (bút lục số 46, 47, 48) tờ dơi 1 (20 tây 7-2015) hội 5.000.000, dây 2 (20 tây 7-2015) hội 5.000.000, 3 (20 tây 7-2015) hội 5.000.000; ngày 30/7/2015 hội 1.000.000; 15 tây.8.2025 hội 2.000.000, các chứng cứ nguyên đơn bà Trần Thị V cung cấp chỉ là bản pho to, không thể hiện rõ nội dung liên quan đến việc tranh chấp hụi giữa nguyên đơn bà Trần Thị V và bị đơn bà Nguyễn Thị X, nguyên đơn bà V và bị đơn bà X không ký xác nhận tiền nợ hụi với nhau. Tuy nhiên, tại biên bản đối chất giữa nguyên đơn bà Trần Thị V và bị đơn bà Nguyễn Thị X ngày 11/9/2018 (bút lụt số 77 – 78) và biên bản lấy lời khai với bà Nguyễn Thị X ngày 18/9/2028 (bút lụt số 66) bị đơn Nguyễn Thị X chỉ thừa nhận còn nợ tiền hụi bà Trần Thị V số tiền 40.000.000 đồng. Từ những nhận định trên, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị V.
Buộc bà Nguyễn Thị X phải trả cho bà Trần Thị V tiền góp hụi là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị V đối với yêu cầu buộc bị đơn bà Nguyễn Thị X trả tiền hụi là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).
[3] Về án phí:
Bà Nguyễn Thị X phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Trần Thị V phải chịu 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 5.750.000 đồng (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm bà Trần Thị V nộp theo biên lai số 003676 ngày 06/12/2017 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa được tính trừ vào án phí bà Trần Thị V phải chịu. Bà Trần Thị V còn phải nộp tiếp số tiền 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
[4] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 4 Điều 474, 479 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 468, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
TUYÊN XỬ:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị V về việc “Tranh chấp hụi” với bị đơn bà Nguyễn Thị X.
Buộc bà Nguyễn Thị X phải trả cho bà Trần Thị V số tiền hụi là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị V đối với yêu cầu buộc bị đơn bà Nguyễn Thị X trả tiền hụi là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí:
Bà Nguyễn Thị X phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Trần Thị V phải chịu 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 5.750.000 đồng (Năm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm bà Trần Thị V nộp theo biên lai số 003676 ngày 06/12/2017 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa được tính trừ vào án phí bà Trần Thị V phải chịu. Bà Trần Thị V còn phải nộp tiếp số tiền 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị X có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Dung |
Bản án số 158/2025/DS - ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hụi
- Số bản án: 158/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
