Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2024/KDTM-PT

Ngày: 20/6/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà:Ông Lê Thọ Viên
Các Thẩm phán:Bà Phùng Thị Như Mai
Bà Lê Thị Quỳnh Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lân - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 80/2024/TLPT-KDTM ngày 06 tháng 3 năm 2024 về vụ việc: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 36/2023/KDTM-ST ngày 16 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2228/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần D2; Địa chỉ: A Đường D, Khu phố H, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Cao Đức D – Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Đức H, sinh năm: 1968 (Văn bản ủy quyền số 06/GUQ ngày 25/5/2025); có mặt;

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Vận tải Thành phố H; Địa chỉ: A đường B, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quang V – Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Minh Vũ D1, sinh năm: 1978 theo Văn bản ủy quyền số 225/GUQ ngày 27/5/2024) và ông Phan Thanh H1, sinh năm: 1967 theo Văn bản ủy quyền số 225/GUQ ngày 27/5/2024, có mặt;

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

a) Công ty TNHH D3; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Thanh M – Phó Giám đốc điều hành (theo Giấy ủy quyền ngày 01/01/2020); xin vắng mặt;

b) Ông Nguyễn Viết T, sinh năm 1957; Địa chỉ: I Khu A phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt;

c) Ông Trần Văn H2, sinh năm 1993; Địa chỉ: thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; xin vắng mặt;

Người kháng cáo: Công ty Cổ phần D2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trình bày của đại diện nguyên đơn:

Ngày 15/11/2018, Công ty Cổ phần D2 (gọi tắt là Công ty D2) có ký Hợp đồng bảo vệ số 010/2018/HĐ-VTTP (gọi tắt là Hợp đồng 010) với Công ty Cổ phần Vận tải Thành phố H (gọi tắt là Công ty V). Theo đó, Công ty D2 sẽ cung ứng dịch vụ bảo vệ cho Công ty V được quy định tại Biên bản bàn giao tài sản và nhân viên bảo vệ lúc 03 giờ 50 phút ngày 06/12/2018 là: 13 (mười ba) vị trí bảo vệ và phương án bảo vệ do Công ty D2 thiết lập để bảo vệ mục tiêu theo hợp đồng ký kết đến hết ngày 31/11/2019 theo yêu cầu của Công ty V.

Thời gian làm việc của bảo vệ là: 14 giờ/01 nhân viên bảo vệ/ngày.

Phí dịch vụ bảo vệ phục vụ trên các tuyến xe buýt hàng tháng là 12.000.000 đồng/nhân viên bảo vệ (mười hai triệu đồng).

Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty D2 đã cung cấp cho Công ty Vận tải Thành phố H số lượng bảo vệ như các bên đã thỏa thuận. Tuy nhiên, vào lúc 21 giờ 05 phút ngày 31/5/2019, Công ty V đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn với Công ty D2. Công ty V đã trục xuất toàn bộ nhân viên bảo vệ của Công ty D2 đang làm nhiệm vụ bảo vệ trên các tuyến xe buýt. Từ đó cho thấy Công ty V không tuân thủ các điều khoản đã thỏa thuận giữa Công ty D2 và Công ty V. Việc Công ty V đơn phương chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích chính đáng của Công ty D2.

Do vậy, Công ty D2 khởi kiện yêu cầu giải quyết như sau:

- Bồi thường Hợp đồng do Công ty V đã tự ý đơn phương chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn thì thời gian còn lại của Hợp đồng là 06 (sáu) tháng: 112.720.000 đồng/tháng, (được áp dụng tính theo đơn giá phí dịch vụ bảo vệ của tháng 02 năm 2019 thấp nhất so với các tháng) x 06 tháng = 676.320.000 đồng (sáu trăm bảy mươi sáu triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng)

- Đối với yêu cầu buộc Công ty V có nghĩa vụ và trách nhiệm thanh toán tiền theo thỏa thuận được quy định tại hợp đồng cho Công ty D2, do Công ty V đã sử dụng 10 nhân viên bảo vệ của Công ty D2 là 20 triệu đồng/ nhân viên x 10 nhân viên = 200.000.000 đồng. Nay ý kiến của Công ty như sau: Đối với Nguyễn Thị Ngọc M1, Nguyễn Thị Thanh T1, Võ Thị Kim C, Tăng Thế H3, Võ Hồng P, Nguyễn Thị Kim H4, Vũ Thúy V1, do Tòa án không xác minh được địa chỉ nơi cư trú của những người này, phía Công ty D2 cũng không biết những người trên hiện sinh sống ở đâu; bà Trương Thị Q thì đã được Tòa án triệu tập mà bà Q không đến Tòa; do đó Công ty D2 xin rút lại yêu cầu đòi Công ty Vận tải trả tiền sử dụng cho 8 nhân viên nêu trên. Hai người còn lại là ông Nguyễn Viết T và Trần Văn H2 thì đề nghị Công ty trả chi phí đào tạo là 20 triệu đồng/ người, 02 người là 40.000.000 đồng.

Tổng cộng số tiền mà Công ty V phải thanh toán do sử dụng nhân viên bảo vệ và bồi thường do đã tự ý đơn phương chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn cho Công ty D2 là: 716.320.000 đồng (bảy trăm mười sáu triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng). Thanh toán một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Ngày 15/11/2018, Công ty D2 có ký Hợp đồng bảo vệ số 010/2018/HĐ-VTTP với Công ty Vận tải đúng như phía nguyên đơn trình bày. Hợp đồng có hiệu lực từ ngày 01/12/2018 đến hết ngày 31/5/2019. Sau thời gian nêu trên, nếu hai bên không có đề nghị bổ sung gì bằng văn bản thì Hợp đồng sẽ đương nhiên được tiếp tục thực hiện thêm 06 tháng. Do không muốn gia hạn Hợp đồng nên Công ty V đã có văn bản số 532/CV-VTTP ngày 21/5/2019 (gọi tắt là văn bản 532) gửi Công ty D2 về việc thanh lý hợp đồng dịch vụ bảo vệ số 010/2018/HĐ-VTTP do ông Nguyễn Quang V – phó tổng giám đốc VTTP ký (theo ủy quyền số 03/GUQ-CTTP ngày 19/9/2018 và ủy quyền số 253/GUQ-VTTP ngày 01/02/2019).

Tuy nhiên, phía Công ty D2 không công nhận tính pháp lý của văn bản 532/CV-VTTP này và đơn phương tuyên bố rằng hợp đồng vẫn tiếp tục được thực hiện và yêu cầu Công ty V bồi thường hợp đồng 06 tháng tiếp theo (mặc dù việc quyết toán hàng tháng ông Nguyễn Quang V ký vẫn được Công ty D2 chấp thuận).

Ngoài ra, các nhân sự đã nghỉ việc của Công ty D2 đã làm việc tại một đơn vị khác nhưng Công ty D2 hiểu nhầm rằng Công ty V tuyển dụng và yêu cầu bồi thường là vô lý.

Công ty V khẳng định những nội dung mà Công ty D2 khởi kiện là không đúng sự thật và đề nghị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xem xét giải quyết không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Tại biên bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Công ty TNHH D3:

Công ty TNHH D3 (Công ty D3) xác nhận có 06 nhân viên gồm: Nguyễn Thị Kim H4, Nguyễn Thị Thanh T1, Nguyễn Ngọc M1, Trương Thị Q, Vũ Thúy V1, Võ Hồng P1 – tự đến phỏng vấn xin việc và hiện đang làm việc tại Công ty D3. Những nhân viên trên có trong danh sách làm việc với Công ty V.

Còn 04 nhân viên, gồm: Nguyễn Viết T, Tăng Thế H3, Trần Văn H2, Võ Thị Kim C – Công ty không biết và hiện không làm việc tại Công ty D3.

Đối với tranh chấp giữa hai Công ty D2 và Công ty Vận tải Thành phố H, Công ty D3 cho rằng không liên quan do các công ty hoạt động độc lập. Công ty D3 không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại biên bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Viết T đã trình bày:

Vào ngày 05/12/2018 sau thời gian tập huấn học tập nghiệp vụ cho tới 15/12/2018, ông T vào Công ty Vận tải làm việc trên các tuyến xe buýt được cấp giấy chứng chỉ nghiệp vụ và thẻ do Công ty vận tải cấp để làm việc. Trong thời gian làm việc luôn có trách nhiệm hoàn thành việc được giao. Cho tới ngày 31/5/2019, khoảng 21 giờ Công ty Vận tải xe khách buộc chúng tôi bàn giao toàn bộ công việc trục xuất tôi ra khỏi Công ty vận tải. Ngày hôm sau chúng tôi trở lại Công ty D2 được thông báo là chấm dứt hợp đồng lao động. Sau đó Công ty D2 có bồi thường 03 tháng tiền lương khoảng 19 triệu – 20 triệu đồng, cho chúng tôi nghỉ việc vì công việc chúng tôi không còn chỗ bố trí. Hiện ông T không còn làm cho bất cứ công ty nào sau khi nghỉ.

Tại biên bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Trần Văn H2 đã trình bày:

Qua người quen giới thiệu công việc, khoảng tháng 5/2020 ông H2 có nộp đơn ứng tuyển vào vị trí Tiếp viên xe bus tại Công ty V để xin việc. Vào cuối tháng 5, ông H2 được nhận vào làm việc, làm việc chính thức từ 6/2020 đến nay. Công việc trước đây là phụ hồ xây dựng, ông H2 không biết gì về Công ty D2, ông H2 chỉ nộp đơn ứng tuyển và làm việc trực tiếp tại Công ty V không thông qua giới thiệu của Công ty nào, không thông qua đào tạo của Công ty nào. Ông H2 xin vắng mặt trong những phiên hòa giải và xét xử.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 36/2023/KDTM-ST ngày 16 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần D2 về việc yêu cầu Công ty Cổ phần Vận tải Thành phố H bồi thường các khoản tiền sau:

- Bồi thường Hợp đồng do Công ty Cổ phần Vận tải Thành phố H đã tự ý đơn phương chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn thì thời gian còn lại của Hợp đồng là: 06 tháng x 112.720.000 đồng/tháng = 676.320.000 đồng (sáu trăm bảy mươi sáu triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng);

- Thanh toán tiền theo thỏa thuận được quy định tại Hợp đồng do Công ty Cổ phần Vận tải Thành phố H đã dùng 02 nhân viên bảo vệ của Công ty Cổ phần D2 là ông Trần văn H2, Nguyễn Viết T với số tiền 20.000.000 đồng x 02 nhân viên bảo vệ = 40.000.000 đồng.

2. Đình chỉ yêu cầu của Công ty Cổ phần D2 về việc yêu cầu Công ty Cổ phần Vận tải Thành phố H bồi thường tiền theo thỏa thuận được quy định tại Hợp đồng do Công ty Cổ phần Vận tải Thành phố H đã dùng 08 nhân viên bảo vệ của Công ty Cổ phần D2 chất lượng cao gồm Nguyễn Thị Ngọc M1, Nguyễn Thị Thanh T1, Võ Thị Kim C, Tăng Thế H3, Võ Hồng P, Nguyễn Thị Kim H4, Vũ Thúy V1 với số tiền 20.000.000 đồng x 08 nhân viên bảo vệ = 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng) do Công ty Cổ phần D2 rút yêu cầu.

3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Nguyên đơn phải chịu án phí 32.652.800 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp là 19.144.800 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2019/0015062 ngày 04/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nguyên đơn còn phải nộp thêm số tiền chênh lệch còn lại là 13.508.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của đương sự theo luật định.

Ngày 22/11/2023, Công ty Cổ phần D2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với yêu cầu: Sửa án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện nguyên đơn rút một phần yêu cầu kháng cáo về việc yêu cầu bồi thường đối với ông Nguyễn Viết T và Trần Văn H2 với số tiền là 40.000.000 đồng. Giữ nguyên lại phần kháng cáo yêu cầu bồi thường Hợp đồng do Công ty Cổ phần Vận tải Thành phố H đã tự ý đơn phương chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn với số tiền là 676.320.000 đồng.

Đại diện bị đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo còn lại của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự tại cấp phúc thẩm thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm về việc yêu cầu bồi thường đối với ông Nguyễn Viết T và ông Trần Văn H2 do nguyên đơn rút lại phần yêu cầu kháng cáo này; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo còn lại của Công ty Cổ phần D2. Bản án sơ thẩm giải quyết đúng căn cứ pháp luật, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty Cổ phần D2 làm trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.

Do nguyên đơn rút yêu cầu bồi thường đối với các ông bà: Ông Tăng Thế H3, Bà Nguyễn Thị Thanh T1, Bà Vũ Thúy V1, Bà Võ Thị Hồng P1, Bà Nguyễn Thị Kim H4, Bà Võ Thị Kim C, Bà Nguyễn Ngọc M1, Bà Trương Thị Q và Tòa án sơ thẩm đã đình chỉ phần yêu cầu này nên không cần thiết đưa những người này vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn rút một phần yêu cầu kháng cáo yêu cầu bồi thường đối với ông Nguyễn Viết T và ông Trần Văn H2 nên Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm với yêu cầu này theo quy định tại khoản 3 Điều 284 và khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Xét yêu cầu kháng cáo còn lại của nguyên đơn có đủ căn cứ để xác định:

Ngày 15/11/2018, giữa Công ty D2 và Công ty V ký Hợp đồng bảo vệ số 010/2018/HĐ-VTTP. Theo nội dung của hợp đồng thì Công ty D2 sẽ cung ứng dịch vụ bảo vệ cho Công ty V. Hợp đồng có hiệu lực từ ngày 01/12/2018 đến hết ngày 31/5/2019. Sau thời gian nêu trên, nếu hai bên không có đề nghị bổ sung gì bằng văn bản thì Hợp đồng sẽ đương nhiên được tiếp tục thực hiện thêm 06 tháng.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn:

Tại khoản 1 Điều 9 của Hợp đồng 010/2018/HĐ-VTTP quy định: “Hiệu lực thi hành: Hợp đồng này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2018 đến hết ngày 31 tháng 5 năm 2019. Sau thời hạn nêu trên, nếu hai bên không có đề nghị gì bằng văn bản thì Hợp đồng này sẽ đương nhiên được tiếp tục thực hiện thêm 06 tháng nữa... ”

Ngày 22/5/2019, Công ty V đã gửi văn bản 532/CV-VTTP về việc thanh lý hợp đồng dịch vụ bảo vệ, thông báo thời hạn hết hạn của Hợp đồng 010 là ngày 31/5/2019 và yêu cầu tiến hành thanh lý Hợp đồng cho Công ty D2.

Việc giao nhận văn bản 532 tại Công ty TNHH G. Công ty TNHH G đã có Công văn số 009-CV/PVE/2020 trả lời: “Bưu phát trên được phát thành công ngày 28/5/2019 lúc 15 giờ 00 phút, được chị L ký nhận...”; Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại cấp sơ thẩm cũng đã xác nhận: “...Ngày 28/5/2019, bà L đã nhận văn bản trên và bàn giao lại cho nguyên đơn trong chiều ngày 31/5/2020...”

Như vậy, có cơ sở để xác định ngày 22/5/2019 Công ty V đã ban hành văn bản 532/CV-VTTP về việc không tiếp tục thực hiện Hợp đồng và đã gửi văn bản này cho Công ty D2 vào ngày 31/5/2020 là đúng thời hạn mà các bên đã thỏa thuận nêu tại khoản 1 Điều 9 của Hợp đồng. Do đó, bị đơn yêu cầu thanh lý Hợp đồng số 010/2018/HĐ-VTTP vào ngày 31/5/2019 và Hợp đồng này không được gia hạn là đúng với nội dung các bên đã ký kết, thỏa thuận.

Về tính hợp pháp của văn bản số 532532/CV-VTTP ngày 22/5/2019 do ông Nguyễn Quang V ký gởi Công ty D2:

Căn cứ giấy ủy quyền của Công ty V lập ngày ngày 19/9/2018 và ngày 01/02/2019 có nội dung: ông Nguyễn Văn L1 ủy quyền cho ông Nguyễn Quang V “...Ký các văn bản chứng từ như Hợp đồng, Thanh lý Hợp đồng... Ký các hóa đơn chứng từ giao dịch từ tài khoản của Công ty”. Ngày 10/7/2019, Công ty D2 có gửi văn bản số b005/CV/2019 hỏi về tư cách pháp lý của ông V; ngày 12/7/2019, Công ty V đã phúc đáp ông V có đầy đủ quyền hạn theo Giấy ủy quyền số 03/GUQ-VTTP ngày 19/9/2018 và Giấy Ủy quyền số 253/GUQ-VTTP ngày 01/02/2019. Như vậy, việc ông V ký văn bản 532 là đúng nội dung được ủy quyền và cũng đã được Công ty vận tải phúc đáp bằng văn bảng để khẳng định vấn đề này với Công ty D2.

Công ty V đã thực hiện thanh lý Hợp đồng đúng theo thỏa thuận giữa các bên theo Hợp đồng 010 và cũng đã gửi văn bản không gia hạn Hợp đồng cho nguyên đơn theo đúng quy định. Do đó, việc Công ty D2 kháng cáo yêu cầu Công ty V phải bồi thường Hợp đồng 010 do Công ty V đã tự ý đơn phương chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn với thời gian còn lại của Hợp đồng là: 06 tháng x 112.720.000 đồng/tháng = 676.320.000 đồng là không có cơ sở để chấp nhận như án sơ thẩm đã nhận định là có căn cứ.

Tại cấp phúc thẩm, Công ty Cổ phần D2 cũng không có chứng cứ nào khác ngoài những vẫn vấn đề đã trình bày tại cấp sơ thẩm nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

Từ nhận xét trên thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm nhận định để không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với tài liệu chứng cứ vụ án, đúng quy định pháp luật nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 148, Khoản 1 Điều 289, Điều 293, Khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo còn lại của Công ty Cổ phần D2.

Giữ nguyên phần bản án sơ thẩm, xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần D2 về việc yêu cầu Công ty Cổ phần Vận tải Thành phố H bồi thường khoản tiền sau:

- Bồi thường Hợp đồng do Công ty Cổ phần Vận tải Thành phố H đã tự ý đơn phương chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn thì thời gian còn lại của Hợp đồng là: 06 tháng x 112.720.000 đồng/tháng = 676.320.000 đồng (sáu trăm bảy mươi sáu triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng);

2. Đình chỉ xét xử phúc thẩm về việc yêu cầu bồi thường đối với ông Nguyễn Viết T và ông Trần Văn H2 với số tiền là 40.000.000 đồng.

3. Đình chỉ yêu cầu của Công ty Cổ phần D2 về việc yêu cầu Công ty Cổ phần Vận tải Thành phố H bồi thường tiền theo thỏa thuận được quy định tại Hợp đồng do Công ty Cổ phần Vận tải Thành phố H đã dùng 08 nhân viên bảo vệ của Công ty Cổ phần D2 chất lượng cao gồm Nguyễn Thị Ngọc M1, Nguyễn Thị Thanh T1, Võ Thị Kim C, Tăng Thế H3, Võ Hồng P, Nguyễn Thị Kim H4, Vũ Thúy V1 với số tiền 20.000.000 đồng x 08 nhân viên bảo vệ = 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng) do Công ty Cổ phần D2 rút yêu cầu.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty Cổ phần D2 phải chịu án phí 32.652.800 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.144.800 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2019/0015062 ngày 04/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; Công ty Cổ phần D2 còn phải nộp thêm số tiền chênh lệch còn lại là 13.508.000 đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm Công ty Cổ phần D2 phải phải chịu 2.000.000 đồng được trừ vào Biên lai thu số 0021831 ngày 28 tháng 11 năm 2023 là 3.000.000 đồng của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty Cổ phần D2 được nhận lại 1.000.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND Quận 11;
  • - VKSND TP Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục THADS Quận 11;
  • - Cục THADS TP Hồ Chí Minh;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thọ Viên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2024/KDTM-PT ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 158/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger