Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BẮC TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2024/HSST Ngày 29/07/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Tuấn;

Bà Nguyễn Thị Thắng.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 138/2024/TLST-HS, ngày 17/06/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/HS-QĐ ngày 12/07/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hoàng Anh D, Sinh năm: 1988 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Số A phố T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Chỗ ở trước khi phạm tội: Căn hộ 1814-B2, khu chung cư Hòa Bình G, số E M, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Bán hàng trực tuyến tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Hoàng B; Sinh năm: 1958; Họ tên mẹ: Lê Thị Kim T; Sinh năm: 1960; Họ tên vợ: Lê Thị Kiều T1; Sinh năm: 1996 (Đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2018; D1 chỉ bản số 207 do Công an quận B lập ngày 13/4/2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Thúy H; Sinh năm: 1994 tại Hòa Bình; Giới tính: Nữ; Nơi thường trú và cư trú: Số B, ngõ G V, tổ dân phố số A, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Thợ làm tóc tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Nguyễn Văn B1; Sinh năm: 1960; Họ tên mẹ: Hoàng Thị H1; Sinh năm: 1958; Họ tên chồng: Dương Văn H2 (Đã chết); Có 02 con (Con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016); D1 chỉ bản số 206 do Công an quận B lập ngày 13/4/2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 05/4/2024, đến ngày 13/4/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giữ; Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Tuấn A, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Số B, ngách E N, phường M, quận B, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cuối tháng 03/2024, qua mạng xã hội T2, bị cáo Hoàng Anh D quen một người sử dụng tài khoản tên “ớt” (không rõ nhân thân lai lịch), “ớt” thuê bị cáo D làm cộng tác viên bán cần sa, cụ thể “ớt” sẽ chuyển cần sa đến cho bị cáo, khi nào có khách mua thì bị cáo đóng gói và giao cho khách, mỗi đơn hàng giao thành công bị cáo được hưởng 80.000 đồng và nhận tiền vào cuối tháng, bị cáo đồng ý.

Ngày 27/03/2024, bị cáo D rủ bị cáo Nguyễn Thị Thúy H là bạn cùng tham gia bán Cần sa và thỏa thuận bị cáo D là người đóng gói và đưa cho bị cáo H cho khách mua. Mỗi đơn hàng bị cáo H được trả 40.000 đồng tiền công, bị cáo H đồng ý.

Ngày 30/03/2024, người sử dụng Telegram "ớt" thuê một nam thanh niên mặc áo grap (chưa xác định được nhân thân) giao 01 hộp giấy màu xanh bên trong chứa cần sa đến cho bị cáo D tại ngõ G đường V, quận H, thành phố Hà Nội. Bị cáo D nhận ma túy sau đó mang đến nhà bị cáo H tại số B, ngõ G V, quận H. Cả hai mang lên tầng 2 mở ra thi thấy bên trong có thảo mộc khô là cần sa và bị cáo D đưa cho bị cáo H cất giữ.

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 03/04/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, anh Phạm Tuấn A sử dụng tài khoản Telegram nhắn tin cho một người sử dụng tài khoản “Mr Lợn” (không rõ nhân thân) hỏi mua 05 gam ma tuý Cần sa với giá 1.400.000 đồng và hẹn giao đến địa chỉ ngõ A Đ, phường X, quận B, thành phố Hà Nội. Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 03/04/2024, người sử dụng Telergam “ớt” nhắn tin đến cho bị cáo D bảo gói 05 gam ma túy cần sa và đặt ship giao đến cho người mua có số điện thoại 0963.099.xxx tại địa chỉ ngõ A Đ, phường X, quận B, thành phố Hà Nội. Sau đó, bị cáo D đến nhà bị cáo H, đóng gói 05 gam ma túy cần sa vào 01 túi nilong màu trắng, quấn vào gói giấy bạc rồi cho vào một hộp giấy màu trắng và túi giấy màu trắng đưa cho bị cáo H để bị cáo H đi. Bị cáo H dùng Zalo tên "trang moon” nhắn tin cho anh Nguyễn Duy T3 (sinh năm: 2004; Nơi thường trú: Tổ B, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc), nhân viên hãng xe công nghệ BE đến nhận đơn hàng và giao cho anh Phạm Tuấn A tại địa chỉ đã hẹn mà không nói với anh T3 hàng đi giao là cần sa. Khi anh Tuấn A vừa đi đến địa điểm đã hẹn tại ngõ A Đ, phường X, quận B để nhận ma túy thì bị tổ công tác Công an phường X kiểm tra, bắt giữ quả tang cùng vật chứng. Cơ quan Công an đã dẫn giải anh T3 đến khu vực anh T3 nhận hàng và mở rộng tìm kiếm thì phát hiện hai bị cáo D, H và đưa về cơ quan Công an để điều tra làm rõ.

Vật chứng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị Thúy H: 01 (một) túi nilon kích thước khoảng 20x35cm bên trong có chứa thảo mộc khô được để vào trong một hộp giấy kích thước khoảng 25x35x15cm; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax màu vàng đã qua sử dụng, bên trong điện thoại có gắn sim số 0344.512.xxx; Thu giữ của bị cáo Hoàng Anh D: 01 (một) điện thoại kiểu dáng Redmi màu đen có lắp sim 0346183034 (đã qua sử dụng); Thu giữ của anh Nguyễn Duy T3: 01 (một) túi giấy màu trắng kích thước khoảng 20x15x6cm trên túi giấy có in chữ “trang moon store”; 01 (một) hộp giấy màu trắng kích thước khoảng 17x9x6cm có in chữ “M MODAGE”; 01 (một)gói giấy bạc; 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước khoảng 18x12cm bên trong có chứa thảo mộc khô; 01 (một) điện thoại đi động nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng có số sim 0862278196; 01 (một) xe máy kiểu dáng Honda Click màu đen, BKS: 88S1-6621 đã qua sử dụng; Thu giữ của anh Phạm Tuấn A: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng, lắp số thuê bao 0963099831, đã qua sử dụng.

Kết luận giám định số 2646 ngày 13/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận số ma túy bị cáo Nguyễn Thị Thúy H tự nguyện giao nộp như sau: “Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong màu trắng là Cần sa, khối lượng: 195,358 gam”.

Kết luận giám định số 2647 ngày 13/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố H trả lời Quyết định trưng cầu giám định số 1348 kết luận số ma túy thu giữ của anh Nguyễn Duy T3 như sau: “Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong là Cần sa, khối lượng: 4,938 gam".

Anh Phạm Tuấn A mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân tuy nhiên chưa nhận được ma túy nên không có căn cứ xử lý.

Chiếc xe máy Honda Click màu đen, mang BKS: 88S1-6621 có chủ xe là bà Lưu Thị Thanh H3, mẹ của anh Nguyễn Duy T3, cuối năm 2023, bà H3 cho anh T3 mượn làm phương tiện đi lại. Xe không có trong dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 28/5/2024, Cơ quan CSĐT - Công an quận B đã trả cho bà H3 chiếc xe máy nêu trên và trả cho anh T3 chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng có số sim 0862278196. Anh T4, bà H3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Tại Cáo trạng số 137/CT-VKS, ngày 05/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố các bị cáo Hoàng Anh D, Nguyễn Thị Thúy H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố; Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Anh D mức án từ 26- 30 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy H mức án từ 24 - 28 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ; Tịch thu sung quỹ: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax màu vàng có gắn sim số 0344512894, 01 (một) điện thoại kiểu dáng Redmi màu đen có gắn sim số 0346183034, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng, có gắn sim số 0963099831 đều đã qua sử dụng; Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng các quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo gì đối với quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

[2]. Về tội danh, khung hình phạt:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 03/4/2024, tại khu vực đầu ngõ A Đ, phường X, quận B, thành phố Hà Nội, các bị cáo Hoàng Anh D và Nguyễn Thị Thúy H đã có hành vi bán trái phép 4,938 gam ma túy loại cần sa cho anh Phạm Tuấn A thông qua anh Nguyễn Duy T3, nhân viên giao hàng hãng xe công nghệ BE. Ngoài ra, các bị cáo còn tàng trữ 195,358 gam ma túy loại cần sa tại nhà bị cáo H tại số B ngõ G V, phường V quận H, thành phố Hà Nội với mục đích để bán. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt áp dụng đối với các bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

[3]. Về tính chất tội phạm, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo biết ma túy loại Cần sa mà các bị cáo mua bán, tàng trữ là chất gây nghiện, làm tổn hại sức khỏe con người đặc biệt là sức khỏe tâm thần, thể chất của người sử dụng, là mầm mống gây ra nhiều loại tội phạm và các bệnh xã hội khác. Việc Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, các bị cáo biết nhưng vẫn thực hiện việc mua bán trái phép để kiếm lời.

Các bị cáo đồng phạm phạm tội với vai trò là người thực hành. Bị cáo D là người rủ rê bị cáo H cùng thực hiện tội phạm, là người liên hệ việc nhận và bán ma túy nên giữ vai trò chính.

[4]. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải, lần đầu bị đưa ra xét xử. Bị cáo H có bố đẻ là người có công, đã trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc (Đã xuất ngũ), có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình (Chồng bị cáo đã chết, bị cáo một mình nuôi hai con nhỏ). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt:

5.1. Hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung với mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo D cao hơn bị cáo H

5.2. Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo.

[6]. Về các vấn đề khác

6.1 Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của các bị cáo và anh Nguyễn Duy T3 là chất gây nghiện, bị cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax màu vàng có gắn sim số 0344512894, 01 (một) điện thoại kiểu dáng Redmi màu đen có gắn sim số 0346183034, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng, có gắn sim số 0963099831 đều đã qua sử dụng thu giữ của các bị cáo và anh Phạm Tuấn A – là phương tiện các bị cáo và anh Tuấn A liên lạc để mua, bán ma túy, liên quan đến tội phạm, có giá trị sử dụng, cần tịch thu sung quỹ.

6.2. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và mức án phí phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Anh D, Nguyễn Thị Thúy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Các điều 168, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án
  3. Về hình phạt:
    • 3.1. Xử phạt bị cáo Hoàng Anh D 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2024.
    • 3.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (Được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 05/4/2024 đến ngày 13/4/2024).
  4. Các vấn đề khác
    • 4.1. Về vật chứng:

      Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Nguyễn Duy T3, giám định viên và cán bộ công an; 01 (một) hộp giấy niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định bên ngoài có chữ ký giáp lai của Nguyễn Thị Thúy H, giám định viên và cán bộ công an; 01 (một) túi giấy màu trắng kích thước khoảng 20x15x6cm trên túi giấy có in chữ “trang moon store"; 01 (một) hộp giấy màu trắng kích thước khoảng 17x9x6cm có in chữ “M MODAGE”; 01 (một) gói giấy bạc; Tịch thu sung quỹ: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Promax màu vàng có gắn sim số 0344512894, 01 (một) điện thoại kiểu dáng Redmi màu đen có gắn sim số 0346183034, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung G710 màu vàng, có gắn sim số 0963099831 đều đã qua sử dụng. Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 205/24 ngày 12/06/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.

    • 4.2. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
    • 4.3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng ;
  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q. Bắc Từ Liêm;
  • - Công an quận Bắc Từ Liêm;
  • - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm;
  • - Sở Tư pháp TP Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2024/HSST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 158/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 03/4/2024, tại khu vực đầu phố Đ, phường Xh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, các bị cáo D và Hg đã có hành vi bán trái phép 4,938 gam ma túy loại cần sa cho anh A thông qua anh T, nhân viên giao hàng hãng xe công nghệ BE. Ngoài ra, các bị cáo còn tàng trữ 195,358 gam ma túy loại cần sa tại nhà bị cáo H tại số 1 VH, phường HV quận H, thành phố Hà Nội với mục đích để bán
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger