Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 158/2024/HS-ST

Ngày 29/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Lượng: Chủ tịch Uỷ ban mặt trận phường Đông Lễ, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
  2. Ông Nguyễn Minh Thắng – Giáo viên Trường trung học cơ sở Nguyễn Huệ, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 150/2024/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Đào Ngọc T; Tên gọi khác B; Sinh ngày: 27/11/2007, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố T, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Đào Văn H, sinh năm 1966; Nghề nghiệp: Lái xe và con bà: Trần Thị H1, sinh năm 1978; Nghề nghiệp: Buôn bán. Hiện cùng trú tại: Khu phố T, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị;

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 05/7/2024 cho đến nay. Có mặt.

Những người tham gia tố tụng:

  1. Người đại diện hợp pháp đồng thời là người bào chữa cho bị cáo Đào Ngọc T: Bà Trần Thị H1, sinh năm: 1978 (mẹ đẻ); trú tại: Khu phố T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
  2. Bị hại:
    • Anh Võ Đặng Anh T1, sinh ngày 03/5/2009; trú tại: Khu phố C, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

    Người đại diện hợp pháp đồng thời là người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của anh Võ Đặng Anh T1: Ông Võ Minh T2, sinh năm: 1976 (bố đẻ); trú tại: Khu phố C, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Anh Đào Ngọc Q, sinh ngày 04/6/2010; trú tại: Khu phố T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

    Người đại diện hợp pháp của anh Đào Ngọc Q đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị H1, sinh năm: 1978 (mẹ đẻ); trú tại: Khu phố T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

    • Anh Lương Hoài Q1, sinh ngày 13/01/2009; trú tại: Khu phố T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

    Người đại diện hợp pháp của anh Lương Hoài Q1 đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lương Văn S, sinh năm: 1974 (bố đẻ); trú tại: Khu phố T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

    • Anh Nguyễn Anh T3, sinh ngày 15/11/2008; trú tại: Số A đường T, khu phố T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

    Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Anh T3 đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hoàng D, sinh năm: 1984 (mẹ đẻ); trú tại: Số A đường T, khu phố T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

  4. Người làm chứng:
    • Anh Nguyễn Đức Q2, sinh ngày 29/12/2010; trú tại: Khu phố T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

    Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Đức Q2: Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm: 1989 (mẹ đẻ); trú tại: Khu phố T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

    • Anh Trịnh Gia K, sinh ngày 03/11/2009; trú tại: Khu phố B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

    Người đại diện hợp pháp của anh Trịnh Gia K: Bà Lê Thị Tuyết T4, sinh năm: 1985 (mẹ đẻ); trú tại: Khu phố B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

    • Anh Trần Minh Nam K1, sinh ngày 04/5/2008; trú tại: Khu phố A, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

    Người đại diện hợp pháp của anh Trần Minh N K1: Ông Trần Minh Đ, sinh năm: 1966 (bố đẻ); trú tại: Khu phố A, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 9 giờ 30, ngày 05/05/2024, tại quán M đường Đ (thuộc khu phố T, phường A, thành phố Đ), Đào Ngọc T (sinh ngày 27/11/2002) đang ngồi chơi cùng với em trai là Đào Ngọc Q (sinh ngày 04/6/2010) và Lương Hoài Q1 (sinh ngày 13/01/2009), Nguyễn Anh T3 (sinh ngày 15/11/2008) cùng trú tại khu phố T, phường A, thành phố Đ thì gặp Võ Đặng Anh T1, Trần Minh Nam K1 và Trịnh Gia K đi trên một xe máy điện đến dừng trước quán MOCHI tìm gặp Nguyễn Đức Q2 để giải quyết mâu thuẫn trước đó. Do nhầm tưởng Đào Ngọc Q là Nguyễn Đức Q2 nên T1 nói “Mi kêu tau lên đây phải không?”. Vì nghĩ T1 dọa đánh em mình là Đào Ngọc Q nên T nói “Răng mi đòi đập thằng em tau rứa”, T1 trả lời “Thì răng”, rồi hai bên xảy ra xâu ẩu. T dùng tay đánh vào mặt T1, T1 liền dùng tay đánh trả lại T. Thấy vậy, Lương Hoài Q1 dùng tay đấm vào người T1 thì T1 đánh trả lại T và Lương Hoài Q1. Thấy Lương Hoài Q1 bị đánh, Nguyễn Anh T3 dùng tay tát 02 cái vào mặt T1 rồi quay lại quán MOCHI. Tiếp đó, Lương Hoài Q1 liền chạy đến chiếc xe máy điện để trước quán, cách vị trí đánh nhau khoảng 02m, lấy 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xám móc ở trên xe rồi đánh liên tục nhiều cái vào đầu T1, T1 quay lại dùng tay trái đỡ những phát đánh bằng mũ bảo hiểm của Lương Hoài Q1, tay phải đánh trả lại T. Lương Hoài Q1 tiếp tục dùng mũ bảo hiểm đánh liên tiếp nhiều cái vào người T1, T1 dùng hai tay để đỡ thì chiếc mũ bảo hiểm bị văng ra và rơi xuống đất thì Hoài Q1 dùng tay đấm vào đầu T1 03, 04 cái rồi không đánh nữa và lùi lại đứng trên vỉa hè. T tiếp tục dùng tay chân đánh vào T1, T1 dùng tay đánh trả lại. Thấy vậy, Đào Ngọc Q nhặt chiếc mũ bảo hiểm (chiếc mũ bảo hiểm Lương Hoài Q1 dùng đánh T1 rơi ở trên mặt đường) xông đến dùng mũ bảo hiểm đánh 02 cái vào lưng T1. Lúc này có người hô lên và can ngăn thì các đối tượng dừng việc đánh nhau, sự việc kết thúc.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 93/KLTTCT-TTPY ngày 27/5/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Đặng Anh T1 tại thời điểm giám định là: 14% ( Mười bốn phần trăm). Trong đó: Gãy cũ xương bàn 5 bàn tay phải, di lệch ít, trong bột 07%; Gãy cũ xương bàn 5 bàn tay trái, di lệch ít, trong bột 07%. Các tổn thương trên phù hợp với vật tày cứng tác động gây nên.

Cáo trạng số 153/CT-VKSĐH ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo Đào Ngọc T về tội "Cố ý gây thương tích", quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”. Được dẫn chiếu tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự:

  • Dùng... hung khí nguy hiểm...;
  • Có tính chất côn đồ;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Đào Ngọc T về tội "Cố ý gây thương tích" và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đào Ngọc T từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.

Xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm là của bị hại Võ Đặng Anh T1, cần trả lại cho Võ Đặng Anh T1.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Người bào chữa cho bị cáo trình bày:

Đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại, người làm chứng được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt phiên tòa, không lý do. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy quá trình điều tra, Cơ quan điều tra – Công an thành phố Đ đã tiến hành lấy lời khai, làm rõ các tình tiết trong vụ án, bị hại không yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự, nên việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở khẳng định:

Vào khoảng 9 giờ 30, ngày 05/05/2024, tại quán M đường Đ (thuộc khu phố T, phường A, thành phố Đ), Đào Ngọc T đã có hành vi dùng tay đánh vào mặt Võ Đặng Anh T1 rồi tiếp tục dùng tay chân đánh vào T1. Lương Hoài Q1 dùng tay đấm vào người T1 và dùng mũ bảo hiểm đánh liên tục nhiều cái vào đầu và người T1. Nguyễn Anh T3 dùng tay tát 02 cái vào mặt T1. Đào Ngọc Q nhặt chiếc mũ bảo hiểm đánh 02 cái vào lưng T1. Quá trình bị đánh bằng tay chân và mũ bảo hiểm thì T1 dùng hai tay để đỡ và đánh trả lại, dẫn đến bị gãy cũ xương bàn 5 bàn tay phải, di lệch ít, trong bột 07%; Gãy cũ xương bàn 5 bàn tay trái, di lệch ít, trong bột 07%, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 14%. Các tổn thương trên phù hợp với vật tày cứng tác động gây nên.

Xét thấy Đào Ngọc T không quen biết, không có mâu thuẫn với Võ Đặng Anh T1, mà chỉ vì hiểu nhầm Võ Đặng Anh T1 dọa đánh em trai mình là Đào Ngọc Q mà Đào Ngọc T đã có hành vi dùng tay chân đánh Võ Đặng Anh T1 nên hành vi của Đào Ngọc T có tính chất côn đồ.

Mặc dù Đào Ngọc T không trực tiếp dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Võ Đặng Anh T1 nhưng trong quá trình đánh T1, T biết được Đào Ngọc Q, Lương Hoài Q1, Nguyễn Anh T3 dùng mũ bảo hiểm là hung khí nguy hiểm và tay chân cùng đánh T1 gây thương tích. Hậu quả, Võ Đặng Anh T1 bị thương tích với tổn thương cơ thể 14% là do Đào Ngọc T, Đào Ngọc Q, Lương Hoài Q1, Nguyễn Anh T3 cùng gây ra. Nên Đào Ngọc T phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm”.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đào Ngọc T đã cấu thành tội "Cố ý gây thương tích", quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, dẫn chiếu tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, làm ảnh hưởng an ninh trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức hành vi của mình có thể gây ra thương tích cho bị hại nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện thông qua cách thức bị cáo thực hiện hành vi và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa. Nên cần xử phạt nghiêm tương xứng với hành vi bị cáo gây ra để đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như xét xử tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho bị hại, nhằm khắc phục những thiệt hại do hành vi của bị cáo đã gây ra; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo; gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, tại thời điểm phạm tội, bị cáo mới 16 tuổi 05 tháng 08 ngày, đang học lớp 11 trường THPT C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Với những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được tiếp tục học hành, thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của pháp luật.

[6] Xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra thu giữ gồm:

  • 01 chiếc mũ bảo hiểm (màu xám, có phần lưỡi trai màu đen, không có nhãn hiệu, đã qua sử dụng);
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, màu đen, BKS: 74AC-038.26, dung tích: 109,2cm3. Số khung: RLHJA3934PY657590; Số máy: JA70E0239643, đã qua sử dụng.

Ngày 08/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ban hành Công văn số 1903/CQCSĐT - ĐTTH chuyển hồ sơ và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, màu đen, BKS: 74AC-038.26, dung tích: 109,2cm3. Số khung: RLHJA3934PY657590; Số máy: JA70E0239643, đã qua sử dụng đến Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Đ để xử phạt hành chính theo thẩm quyền.

Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm là của bị hại Võ Đặng Anh T1, cần trả lại cho Võ Đặng Anh T1.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện hợp pháp của Đào Ngọc T, Đào Ngọc Q, Lương Hoài Q1 và Nguyễn Anh T3 đã bồi thường cho Võ Đặng Anh T1 số tiền 4.000.000 đồng. Ông Võ Minh T2, bố của bị hại Võ Đặng Anh T1 đã nhận đủ số tiền bồi thường theo yêu cầu, không có yêu cầu gì thêm.

[8] Về các hành vi liên quan:

Trong vụ án này, Đào Ngọc Q, Lương Hoài Q1 và Nguyễn Anh T3 là các đồng phạm với Đào Ngọc T. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Đào Ngọc Q 13 tuổi, 11 tháng, 01 ngày; Lương Hoài Q1 15 tuổi, 03 tháng, 22 ngày; Nguyễn Anh T3 15 tuổi, 05 tháng, 20 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự nên Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ cho Công an thành phố Đ và cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý bằng biện pháp hành chính.

Đối với bà Trần Thị H1, đã có hành vi để cho Đào Ngọc T tự ý lấy xe tham gia giao thông nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an thành phố Đ xem xét xử phạt vi phạm hành chính.

[9] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, buộc bị cáo Đào Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đào Ngọc T (tên gọi khác: B) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 36; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Bị cáo Đào Ngọc T 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố Đ nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Đào Ngọc T cho trường Trung học phổ thông C, huyện C, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian bị phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với trường Trung học phổ thông C, huyện C, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật hình sự, trả lại 01 (Một) chiếc mũ bảo hiểm cho Võ Đặng Anh T1.

Vật chứng trên có đặc điểm như tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà. Hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, buộc bị cáo Đào Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND thành phố Đông Hà;
  • - Công an thành phố Đông Hà;
  • - Chi cục THADS TP Đông Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người có QL&NVLQ;
  • - THA hình sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 158/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Ngọc T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger