Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 158/2024/HSST

Ngày: 05-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Hoàng

2. Ông Nguyễn Văn Quang

Thư ký phiên toà: Bà Lê Như Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 162/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Đỗ Hồng S (Tên gọi khác: C), Sinh năm: 1985; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Công nhân; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Con ông: Trần Văn H và bà: Lê Thị C1 (Đã chết); Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt truy nã ngày 06/8/2024, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại: Ông Đậu Văn H1, sinh năm: 1948. Địa chỉ: Khu phố A, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 01/11/2002, Nguyễn Thanh T rủ Đỗ Hồng S và Lê Quang S1 đi trộm cắp bò để bán lấy tiền tiêu xài; thực hiện ý định này, cả ba đến khu vực người dân thường chăn thả bò thuộc thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là khu phố H, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận) dắt trộm 03 con bò (gồm 01 con bò đực, 01 con bò cái và 01 con bê cái) của ông Đậu Văn H1 rồi dẫn đến khu vực giáp ranh với xã S, huyện H lại để giấu. Sau đó, T, S và S1 bán 02 con bò (gồm 01 con bò đực và 01 con bò cái) cho ông Trương Huỳnh V giá 5.000.000 đồng; còn 01 con bê cái chưa bán được thì vẫn cột ở khu vực giáp ranh xã S. Sau khi phát hiện bò bị mất, ông H1 đã trình báo với chính quyền địa phương, Công an huyện H (nay là Công an thị xã L) đã thu giữ được 03 con bò mà S cùng với T và S1 dắt trộm của ông H1 để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Biên bản xác định giá trị bò ngày 13/11/2002 có sự tham gia của đại diện phòng Tài chính – Kế hoạch, đại diện Công an và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân (huyện cũ), người mua bán bò và chủ sở hữu; Hội đồng đã xác định giá trị 03 con bò như sau:

  • - 01 con bò đực, bò lai bô, có lông màu vàng, sừng trỏng cao 05cm, chiều cao của con bò 01m20, bò có độ tuổi: 02 năm tuổi, chưa có răng, trọng lượng khoảng 250kg hơi. Căn cứ vào giá cả thị trường, giá trị con bò: 3.500.000 đồng.
  • - 01 con bò cái, bò lai bô, có lông màu vàng, sừng trỏng cao 05cm, chiều cao của con bò 01m10, bò có độ tuổi: 05 tuổi, có 03 đôi răng, trọng lượng khoảng 150kg hơi. Căn cứ vào giá cả thị trường, giá trị của con bò: 4.000.000 đồng.
  • - 01 con bê con, bò lai bô có lông màu vàng, bò 08 tháng tuổi, cao 0,7m. Căn cứ giá cả thị trường, giá trị con bò: 1.500.000 đồng.
  • - Tổng giá trị của 03 con bò: 9.000.000 đồng. (Bút lục: 91).

Đối với Nguyễn Thanh T đã được đưa ra xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 04/HSST ngày 04/3/2003 của Toà án nhân dân huyện Hàm Tân (huyện cũ), còn Lê Quang S1 tại thời điểm phạm tội chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không xem xét xử lý.

Đối với Đỗ Hồng S khi được tại ngoại để phục vụ điều tra đã bỏ trốn khỏi địa phương nên bị Công an huyện H (nay là Công an thị xã L) ra quyết định truy nã. Đến ngày 06/8/2024, Đỗ Hồng S bị bắt theo quyết định truy nã.

Tại bản cáo trạng số 164/CT –VKSLG-HS ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Đỗ Hồng S về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Hồng S phạm tội "Trộm cắp tài sản".

  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Đề nghị xử phạt: Bị cáo Đỗ Hồng S, mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

- Đỗ Hồng S khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

- Bị cáo không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người

tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập, phản ánh trong hồ sơ vụ án và thông qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận: Để có tiền tiêu xài, Đỗ Hồng S, Lê Quang S1, Nguyễn Thanh T rủ nhau đi trộm cắp bò để bán, cụ thể vào ngày 01/11/2002, tại thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (nay là khu phố H, phường T, thị xã L) khi phát hiện 03 con bò đang cột không có người trông giữ, Lê Quang S1 đến mở dây dắt con bò cái, Đỗ Hồng S dắt con bò đực, còn Nguyễn Thanh T lùa con bê con của ông Đậu Văn H1 (03 con bò trị giá 9.000.0000 đồng) đem bán cho ông Trương Huỳnh T1 bị phát hiện, bắt giữ.

Đối với Nguyễn Thanh T, Lê Quang S1 đã được xử lý theo Bản án số: 04/HSST ngày 04-3-2003 của TAND huyện Hàm Tân (cũ) nay là TAND thị xã La Gi, nên HĐXX không xét.

Xét thấy, bị cáo Đỗ Hồng S và đồng phạm có hành vi lén lút chiếm đoạt 03 con bò trị giá 9.000.0000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Tuy nhiên, thời điểm mà bị cáo S thực hiện hành vi phạm tội trước ngày Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực pháp luật, nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 3 Điều 7; Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, để quyết định hình phạt theo hướng có lợi đối với bị cáo Đỗ Hồng S. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố đối với bị cáo Đỗ Hồng S về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, để nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm, nhưng với bản

tính tham lam, chây lười lao động, bị cáo và Nguyễn Thanh T, Lê Quang S1 đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại như đã nêu trên. Hành vi phạm tội của các đối tượng là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý mất an toàn trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Xét thấy, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, không tổ chức và phân công vai trò cụ thể của từng bị cáo, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau. Tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, mức độ nhận thức có phần hạn chế nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo Đỗ Hồng S khi được tại ngoại phục vụ việc điều tra, truy tố, xét xử đã cố trình bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra nên cần xử lý nghiêm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi và trả lại cho bị hại; Do đó, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết theo Bản án số: 04/HSST ngày 04-3-2003 của TAND huyện Hàm Tân (cũ) nay là TAND thị xã La Gi, nên HĐXX không xét.

luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 173; Điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 90, Điều 101 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • - Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Hồng S, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[3] Xử phạt: Bị cáo Đỗ Hồng S 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 06/8/2024.

[4] Về án phí: Bị cáo Đỗ Hồng S phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - Chi cục THADS thị xã La Gi;
  • - Nhà tạm giữ CA thị xã La Gi;
  • - Cơ quan điều tra CA thị xã La Gi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - Lưu Tòa án;
  • - UBND địa phương nơi BC cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2024/HSST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 158/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Hồng S phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger