Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:158/2024/HSST

Ngày 25 - 7 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bắc Hải; bà Lèo Thị Chan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 156/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hương L, tên gọi khác: Không; sinh ngày 16/02/1977 tại huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Tổ D, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Buôn bán tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Bá H (đã chết); con bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1944; chồng là Mai Văn N, sinh năm 1976 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2016). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 đến ngày 18/01/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn An T, sinh năm 1986 (sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1990); nơi cư trú: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Chị Đôn Thị Thu H2, sinh năm 1976 (chồng là Võ Quang H3, sinh năm 1974); nơi đăng ký HKTT: Tiểu khu A, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La; nơi ở hiện tại: Tổ D, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Chị Cầm Thu H4, sinh năm 1981; nơi cư trú: Bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Anh Mai Văn N, sinh năm 1976 (chồng bị cáo Nguyễn Hương L); nơi cư trú: Tổ D, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hương L làm nghề buôn bán tạp hóa và dịch vụ mua bán xe ô tô, xe máy cũ. Quá trình kinh doanh, L nảy sinh ý định cho người khác vay tiền với lãi suất cao. Để tránh bị cơ quan chức năng phát hiện và đảm bảo cho việc vay tiền, L yêu cầu người vay thế chấp xe ô tô nhưng viết giấy bán xe với số tiền bán xe tương ứng với số tiền vay. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định Nguyễn Hương L cho 03 người vay tiền với lãi suất vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính số tiền 67.863.014 đồng. Cụ thể:

1) Nguyễn An T, trú tại tổ A, phường Q, thành phố S vay Nguyễn Hương L 110.000.000đ, L thu lợi bất chính số tiền 31.609.589 đồng.

Ngày 02/10/2023, T thế chấp chiếc xe ô tô Kia Morning màu trắng, biển kiểm soát 26A-086.29 (viết Giấy bán xe), vay L 100.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày. Cả hai thống nhất 10 ngày trả lãi một lần, thời hạn vay 03 tháng kể từ ngày 03/10/2023. Từ ngày 03/10/2023 đến ngày 10/12/2023, T đã 07 lần trả Lan tiền lãi đối với khoản vay trên thông qua hình thức chuyển tiền từ tài khoản M1 mang tên Nguyễn Thị Hồng T1 (vợ T) đến số tài khoản V1 0968268828 mang tên Nguyễn Hương L. Tổng số tiền lãi L nhận là 35.000.000 đồng. Như vậy, trong khoảng thời gian từ 03/10/2023 đến 10/12/2023 (70 ngày), L cho T vay 100.000.000 đồng với lãi suất 182,5%/ 01 năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 9,125 lần. T2 lợi bất chính 31.164.384 đồng (số tiền lãi được phép thu theo quy định là 3.835.616 đồng).

Ngày 02/11/2023, T tiếp tục vay Lan 10.000.000 đồng, thống nhất lãi suất 5.000đồng/01 triệu/01 ngày, 10 ngày trả lãi một lần, kể từ ngày 03/11/2023. Ngày 12/11/2023, T chuyển 500.000 đồng từ tài khoản của T1 đến tài khoản của L với nội dung “chuyển lãi 10 triệu lần 1” để trả tiền lãi 10 ngày lần thứ nhất của khoản vay trên. Như vậy, trong khoảng thời gian từ 02/11/2023 đến 12/11/2023, L cho T vay 10.000.000 đồng với lãi suất 182,5%/ 01 năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 9,125 lần trong thời gian 10 ngày, thu lợi bất chính số tiền 445.205 đồng (số tiền lãi được phép thu theo quy định là 54.795 đồng).

Tổng số tiền Nguyễn Hương L thu L1 bất chính từ 02 khoản vay của Nguyễn An T là 31.609.589 đồng. Ngày 21/12/2023, Nguyễn An T có đơn trình báo tại Công an tỉnh S, đồng thời giao nộp số tiền vay 100.000.000 đồng và có đơn xin lại tài sản thế chấp của khoản vay trên là chiếc xe ô tô Kia Morning mầu trắng, biển kiểm soát 26A-086.29. Ngày 25/12/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp.

2) Đôn Thị Thu H2, trú tại tiểu khu A, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La vay Nguyễn Hương L 215.000.000 đồng, L thu lợi bất chính số tiền 20.230.137 đồng.

Từ ngày 17/8/2023 đến ngày 15/9/2023, H2 vay L 215.000.000 đồng, lãi suất 3.500 đồng/01 triệu/01 ngày. Ngày 04/10/2023, H2 chuyển 200.000.000 đồng từ số tài khoản V2 mang tên Võ Quang H3 (chồng H2) đến số tài khoản của L để thanh toán tiền gốc, H2 còn nợ lại 15.000.000 đồng tiền gốc. Về tiền lãi khoản vay trên, L tính từ ngày 18/8/2023 đến ngày 04/10/2023 (38 ngày) là 24.080.000 đồng, lấy tròn là 24.000.000 đồng. H2 và L thống nhất cộng 15.000.000 đồng tiền gốc cũ và 24.000.000 đồng tiền lãi thành khoản nợ mới 39.000.000 đồng tính từ ngày 04/10/2023 (khoản vay này H2 thế chấp 01 bộ giấy tờ xe ô tô 26R-033.98). Như vậy, đối với khoản vay 215.000.000 đồng, L thu lãi 127,75%/ 01 năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 6,388 lần, thu lợi bất chính 20.230.137 đồng (Số tiền lãi được phép thu theo quy định là 3.769.863 đồng).

3) Cầm Thu H4, trú tại bản G, phường Q, thành phố S vay Nguyễn Hương L 300.000.000 đồng, L thu lợi bất chính số tiền 16.023.288 đồng.

Do nhu cầu cá nhân, Cầm Thu H4 đặt vấn đề vay tiền Nguyễn Hương L. Cả hai thống nhất lãi suất các khoản vay không ấn định cụ thể, tùy thuộc số tiền vay và thời gian vay.

Lần thứ nhất: Ngày 22/12/2022, H4 vay L 150.000.000 đồng. Ngày 02/01/2023, H4 thanh toán 5.400.000 đồng tiền lãi (11 ngày) từ ngày 23/12/2022 đến ngày 02/01/2023. Như vậy, L thu lãi 119,455%/ 01 năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 5,973 lần, thu lợi bất chính 4.495.890 đồng (số tiền lãi được phép thu theo quy định là 904.110 đồng). Ngày 10/01/2023, H4 trả L 154.500.000 đồng, trong đó 150.000.000 đồng tiền gốc và 4.500.000 đồng tiền lãi từ ngày 03/01/2023, đến ngày 10/01/2023 (08 ngày). Như vậy, L thu lãi 136,875%/ 01 năm, vượt quá 1,131 mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 6,844 lần, thu lợi bất chính 3.842.466 đồng (Số tiền lãi được phép thu theo quy định là 657.534 đồng).

Lần thứ hai: Ngày 19/02/2023, H4 vay L 150.000.000 đồng. Ngày 07/3/2023 H4 thanh toán với L 159.000.000 đồng, trong đó 150.000.000 đồng tiền gốc và 9.000.000 đồng tiền lãi (16 ngày) từ ngày 20/02/2023 đến ngày 07/3/2023. Như vậy, ở khoản vay này, L thu lãi 136,875%/ 01 năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 6,844 lần, thu lợi bất chính 7.684.932 đồng (số tiền lãi được phép thu theo quy định là 1.315.068 đồng). Tổng số tiền Nguyễn Hương L thu lợi bất chính từ các khoản tiền vay của Cầm Thu H4 là 16.023.288 đồng.

* Tài liệu, vật chứng thu giữ:

  • 01 phong bì thư do Công an tỉnh S phát hành, mặt trước ghi: “01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của Nguyễn Hương L', mặt sau được dán kín, trên mép dán có dán Giấy niêm phong trên có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 02 hình dấu của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh S.
  • 01 Giấy bán xe ngày 02/10/2023 giữa Nguyễn An T và Đinh Công T3 + 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ số DA 6179907 + 01 Giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc số 26 000337 đối với rơ moóc nhãn hiệu JUNTONG, biển kiểm soát 26R-003.98;
  • 01 Giấy bán xe đề ngày 17/8/2023 của Đôn Thị Thu H2 + 01 sổ ghi chép mua bán xe ô tô, xe máy;
  • 01 Giấy vay tiền đề ngày 26/5/2022 của Hoàng Thị V + 01 vở ô ly bìa có ghi "MÌ ĂN LIỀN CHÍP CHÍP" có nội dung giấy biên nhận ngày 18/5/2017 chị T4 vay của em Nhất L2 + 01 Giấy mượn xe ngày 30/4/2018 của Lê Thị Thu H5 + 01 Giấy bán xe đề ngày 02/11/2022 của Nguyễn Thị M + 01 Giấy vay tiền đề ngày 23/01/2017 của Nguyễn Thái S + 01 Giấy mượn xe đề ngày 29/01/2017 của Nguyễn Thái S + 01 quyển vở ô ly bìa có ghi TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN HÁT LÓT có 3 giấy vay tiền của Phạm Thị T5 và Trần Đình L3;
  • 01 Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 24A8005046, đăng ký lần đầu ngày 21/04/2013, đăng ký thay đổi lần thứ 01 ngày 04/03/2017 của hộ kinh doanh Nguyễn Hương L + 01 biên nhận đề ngày 19/10/2009 + 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 15/10/2009 + 01 Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 12/3/2014;
  • 01 Giấy vay tiền đề ngày 17/3/2023 của Nguyễn Thị T6, Nguyễn Văn K + 01 Giấy mua bán xe đề ngày 16/4/2022 của Bùi Thị L4 + 01 Giấy bán cho tặng xe máy chuyên dùng đề ngày 29/11/2014 của Hoàng Thị T7 + 01 bản photo Giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Hoàng Thị T7;

- Tiền ngân hàng N2 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) do Nguyễn An T giao nộp theo công văn số 1100/CSHS-Đ2 ngày 21/12/2023 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S về việc nộp tiền vào tài khoản tạm giữ của Công an tỉnh S tại Kho bạc nhà nước tỉnh Sơn La.

* Biện pháp cưỡng chế:

Ngày 10/01/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh S ra Lệnh phong tỏa tài khoản số 18/LPT-CSHS-Đ2 đối với tài khoản Ngân hàng V1 số tài khoản 102872607669 mang tên NGUYEN HUONG LAN. Ngày 22/01/2024 Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh S1 đã thực hiện phong tỏa tài khoản 102872607669, số tiền 168.307.946 đồng.

Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 23/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Nguyễn Hương L về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • Bị cáo Nguyễn Hương L thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố, bị cáo không khai báo gì thêm.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mai Văn N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
  • Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hương L phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hương L từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • + Về xử lý vật chứng, tài sản: Đề nghị hủy bỏ lệnh phong tỏa tài khoản số 18/LPT-CSHS-Đ2 đối với tài khoản Ngân hàng V1 số [...] mang tên NGUYEN HUONG LAN, số tiền 168.307.946 đồng.
  • Đối với các giấy tờ thu giữ đề cập trong cáo trạng xác định không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo trừ 01 giấy bán xe đề ngày 02/10/2023 của T; 01 giấy bán xe đề ngày 17/8/2023 của H2.
  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000.000 đồng T vay của L (Số tiền này T đã nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO REN08 Z 5G thu giữ của bị cáo.
  • Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền gốc L cho T, H2, H4 vay là 525.000.000 đồng (Trong đó: Lan 510.000.000 đồng, T 10.000.000 đồng, H2 15.000.000 đồng) và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất 20% mà L đã thu của T 3.890.411 đồng, L đã thu của H4 2.876.712 đồng.
  • Buộc L phải trả lại cho T số tiền thu lợi bất chính 31.609.589 đồng; trả lại cho H4 số tiền thu lợi bất chính 16.023.288 đồng.
  • + Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  • - Lời sau cùng của bị cáo: Kính mong toà xem xét lại số tiền truy thu của bị cáo xin được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội:

Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2022 đến tháng 10/2023, lợi dụng việc được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mua bán xe ô tô, xe máy cũ, Nguyễn Hương L đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng dưới hình thức nhận thế chấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, xe máy và tín chấp để cho vay với lãi suất cao. Cụ thể:

Nguyễn Hương L cho Nguyễn An T vay 110.000.000 đồng với lãi suất 182,5%/01 năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 9,125 lần, thu lợi bất chính số tiền 31.609.589 đồng; cho Đôn Thị Thu H2 vay 215.000.000 đồng với lãi suất 127,75%/01 năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 6,388 lần, thu lợi bất chính số tiền 20.230.137 đồng; cho Cầm Thu H4 vay 02 lần, mỗi lần 150.000.000 đồng = 300.000.000 đồng với lãi suất từ 119,455%/01 năm đến 136,875%/01 năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự từ 5,973 đến 6,844 lần, thu lợi bất chính số tiền 16.023.288 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Nguyễn Hương L phải chịu trách nhiệm hình sự là 67.863.014 đồng.

Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Đơn tố giác tội phạm đề ngày 15/12/2023 của anh Nguyễn An T về hành vi cho vay lãi nặng của Nguyễn Hương L đồng thời cung cấp 12 tờ giấy A4 in ảnh giao dịch chuyển tiền; 06 tờ giấy A4 in ảnh nội dung tin nhắn qua ứng dụng Zalo và 02 ảnh chụp khu vực giao dịch mua bán xe ô tô Nhất Lan; Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp lập hồi 17 giờ 45 phút ngày 16/12/2023 đối với Nguyễn Hương L; Biên bản khám xét chỗ ở, nơi làm việc của Nguyễn Hương L tại số nhà E, 660, đường L, tổ D, phường C, thành phố S cùng tài liệu, vật chứng thu giữ; Biên bản mở niêm phong, kiểm tra, thu thập dữ liệu lưu trữ trong điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Hương L; Sao kê tài khoản ngân hàng, dữ liệu tin nhắn, cuộc gọi trên điện thoại của Nguyễn Hương L với các đối tượng có liên quan trong vụ án thể hiện việc chuyển tiền và các hoạt động khác liên quan đến việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Lời khai nhận tội của Nguyễn Hương L tại Cơ quan điều tra và phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay và các đối tượng liên quan đến việc vay) và các chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Hương L đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm được quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự.

[4] Về khung hình phạt áp dụng:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Hương L cho vay tiền với lãi suất cao gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự và thu lợi bất chính số tiền 67.863.014 đồng, đã vi phạm tình tiết định khung “Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo.

[6] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hình phạt:

Bị cáo Nguyễn Hương L là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với động cơ vụ lợi; hành vi mà bị cáo thực hiện không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ mà còn xâm phạm đến lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, bản thân thường xuyên đau ốm, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp đảm bảo tính giáo dục, răn đe, phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, đảm bảo tính giáo dục riêng, răn đe phòng ngừa chung và phù hợp với nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại Nghị quyết số 01/2021/HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Về khấu trừ thu nhập: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[7] Về hình phạt bổ sung:

Tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Do bị cáo còn phải nộp lại số tiền sử dụng vào việc phạm tội và thu lợi bất chính lớn, vì vậy cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Đối với những người liên quan:

Đối với chị Nguyễn Thị Hồng T1 (sống chung như vợ chồng với Nguyễn An T) có cho Nguyễn An T mượn tài khoản Ngân hàng để sử dụng. Tuy nhiên, T1 không biết và không tham gia vào việc giao dịch vay tiền với bị cáo Nguyễn Hương L nên không có căn cứ để xem xét.

Đối với cháu Mai Hoàng A: Bị cáo dùng tài khoản Ngân hàng của Mai Hoàng A để thực hiện chuyển số tiền cho người vay là chị Cầm Thu H4, cháu Hoàng A không biết việc cho vay và lãi suất của bị cáo, không được hưởng lợi ích từ việc nhận tiền, đòi tiền. Do đó, hành vi không cấu thành tội phạm và không đồng phạm với bị cáo L về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Đối với anh Võ Quang H3 (chồng chị Đôn Thị Thu H2): Người vay tiền là chị H2 đã dùng tài khoản ngân hàng của anh H3 để chuyển khoản số tiền gốc 200.000.000 đồng đến tài khoản của bị cáo L, anh H3 không biết việc chị H2 vay tiền và thỏa thuận về lãi suất, số tiền này nguồn gốc là của chị H2 nên không phát sinh trách nhiệm hoàn trả với anh H3.

Đối với anh Phạm Đình Đ, anh Đào Duy Khánh và chị Hoàng Thị V, bị cáo cho những người này vay tiền với lãi suất dưới 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự. Trước khi bị khởi tố, những người này và bị cáo đã thanh toán xong hết các khoản nợ nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với những người vay còn lại là: Trịnh Văn H6, Phạm Thị T5, Trần Đình L3, Nguyễn Thị T8, Trần Thị T9, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thái S, Nguyễn Thị T6, Nguyễn Thị T10, Nguyễn Thị N1. Tuy nhiên thực tế giao dịch dân sự giữa hai bên không trả lãi, nên không đề cập xử lý.

[9] Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 5 Nghị quyết 01/2021/HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự thì khoản tiền gốc và khoản tiền thu lời bất chính mà bị cáo đã thu được từ hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự được xử lý như sau:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo nguyên tắc: Khoản tiền, tài sản khác người phạm tội dùng để cho vay (nếu người vay đã trả) + tiền lãi thu được (bao gồm tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm và tiền thu lời bất chính tương ứng mức lãi suất trên 20%/năm mà người phạm tội đã thu của người vay).

Đối với người vay: Do những người này không sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp nên cần hoàn trả lại cho họ số tiền thu lợi bất chính mà họ đã trả cho bị cáo. Tuy nhiên, họ phải nộp lại số tiền gốc còn nợ bị cáo để sung quỹ Nhà nước. Cụ thể:

Truy thu của bị cáo số tiền gốc bị cáo đã thu đối với các khoản vay của chị C Thu H4 là 300.000.000 đồng; số tiền gốc bị cáo đã thu đối với khoản vay của chị Đôn Thị Thu H2 là 200.000.000 đồng; số tiền gốc anh Nguyễn An T vay của bị cáo và đã nộp cho cơ quan điều tra là 100.000.000 đồng; số tiền lãi suất 20% của anh Nguyễn An T bị cáo đã thu là 3.890.411 đồng; số tiền lãi suất 20% của chị C Thu Hà bị cáo đã thu là 2.876.123 đồng. Tổng cộng là 506.767.123 đồng.

Truy thu số tiền gốc của anh Nguyễn An T 10.000.000 đồng vay bị cáo nhưng chưa trả và số tiền gốc của chị Đôn Thị Thu H2 15.000.000 đồng vay bị cáo nhưng chưa trả.

Buộc bị cáo phải trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khoản tiền thu lợi bất chính đã thu gồm anh Nguyễn An T 31.609.589 đồng; chị Cầm Thu H4 16.023.288 đồng.

[10] Đối với tài khoản bị phong tỏa:

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh S đã ra lệnh phong tỏa tài khoản số 18/LPT-CSHS-Đ2 ngày 10/01/2024 đối với tài khoản ngân hàng V1 số [...] mang tên NGUYEN HUONG LAN, số tiền là 168.307.946 đồng. Xét thấy, để đảm bảo cho việc thi hành án dân sự, vì vậy cần huỷ bỏ lệnh phong toả tài khoản số 18/LPT-CSHS-Đ2 ngày 10/01/2024 đối với tài khoản ngân hàng V1 số [...] mang tên NGUYEN HUONG LAN.

[11] Về xử lý vật chứng, tài sản:

* Vật chứng, tài sản lưu tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La:

  • Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của bị cáo, xác định bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • Đối với số tiền 100.000.000 đồng anh Nguyễn An T đã nộp theo công văn số 1100/CSHS-Đ2 ngày 21/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra về việc nộp tiền vào tài khoản tạm giữ của Công an tỉnh S tại Kho bạc nhà nước tỉnh S, số tiền này đã được chuyển vào tài khoản 3949.0.1054135 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La tại Kho bạc Nhà nước tỉnh S theo uỷ nhiệm chi số 279 ngày 21/5/2024 của Công an tỉnh S, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

* Vật chứng, tài sản lưu tại hồ sơ vụ án:

  • Đối với 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ số DA 6179907; 01 Giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc số 26 000337 nhãn hiệu JUNTONG, biển kiểm soát 26R-003.98; 01 Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 24A8005046, đăng ký lần đầu ngày 21/04/2013, đăng ký thay đổi lần thứ 01 ngày 04/3/2017 của hộ kinh doanh Nguyễn Hương L; 01 Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 12/3/2014; 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 15/10/2009. Xét thấy, các giấy tờ trên thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của bị cáo và gia đình, do đó cần trả lại cho bị cáo.
  • Đối với 01 Giấy bán xe đề ngày 02/11/2022 của Nguyễn Thị M; 01 Giấy vay tiền đề ngày 23/01/2017 của Nguyễn Thái S; 01 Giấy mượn xe đề ngày 29/01/2017 của Nguyễn Thái S; giấy vay tiền ngày 26/5/2022 của Hoàng Thị V; 01 giấy bán xe của Nguyễn An T ngày 02/10/2023; 01 bản photo Giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Hoàng Thị T7; 01 Giấy bán cho tặng xe máy chuyên dùng đề ngày 29/11/2014; 01 Giấy mua bán xe đề ngày 16/4/2022; 01 Giấy vay tiền đề ngày 17/3/2023; 01 biên nhận đề ngày 19/10/2009; 01 Giấy mượn xe ngày 30/4/2018 của Lê Thị Thu H5; 01 vở ô ly bìa có ghi "MÌ ĂN LIỀN CHÍP CHÍP"; 01 quyển vở ô ly bìa có ghi TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN HÁT LÓT; 01 giấy bán xe ngày 17/8/2023 với nội dung Đôn Thị Thu H2 bán chiếc xe HUYNDAI 24T loại xe 4 chân màu sơn ghi bạc, biển kiểm soát 26C-008.45. Cơ quan điều tra xác định là các loại giấy tờ chứng minh hành vi cho vay lãi của bị cáo, cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án theo quy định.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hương L phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hương L 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 33 ngày, từ ngày 17/12/2023 đến ngày 18/01/2024 (01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ = 03 tháng 09 ngày). Bị cáo còn phải chấp hành 08 (T11) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố S, tỉnh Sơn La nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Hương L.

Giao bị cáo Nguyễn Hương L cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về biện pháp tư pháp; trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

2.1. Về biện pháp tư pháp:

Hủy bỏ lệnh phong tỏa tài khoản số 18/LPT-CSHS-Đ2 ngày 10/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S. Tạm giữ số tiền còn lại có trong tài khoản Ngân hàng V1 số [...] mang tên NGUYEN HUONG LAN, chi nhánh S1 để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Nguyễn Hương L.

2.2. Về trách nhiệm dân sự:

- Truy thu đối với bị cáo Nguyễn Hương L số tiền gốc và số tiền lãi 20% đã thu là 506.767.123 đồng (Làm tròn số là 506.767.000 đồng).

- Truy thu đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn An T số tiền 10.000.000 đồng và chị Đôn Thị Thu H2 15.000.000 đồng.

- Buộc bị cáo phải trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn An T số tiền 31.609.589 đồng; chị Cầm Thu H4 16.023.288 đồng.

2.3. Về xử lý vật chứng, tài sản:

* Vật chứng, tài sản lưu tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO REN08 Z 5G thu giữ của Nguyễn Hương L (đã được niêm phong theo quy định); Số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) do Nguyễn An T giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra đã được chuyển vào tài khoản số 3949.0.1054135 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La tại Kho bạc Nhà nước tỉnh S theo uỷ nhiệm chi số 279 ngày 21/5/2024 của Công an tỉnh S.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo kèm 02 sim.

* Vật chứng, tài sản lưu tại hồ sơ vụ án:

- Trả lại ngay cho bị cáo: 01 Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 24A8005046, đăng ký lần đầu ngày 21/04/2013, đăng ký thay đổi lần thứ 01 ngày 04/3/2017 của hộ kinh doanh Nguyễn Hương L; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ số DA 6179907; 01 Giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc số 26 000337 đối với rơ moóc nhãn hiệu JUNTONG, biển kiểm soát 26R-003.98; 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 15/10/2009; 01 Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 12/3/2014.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Nguyễn Hương L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - PC04-Công an tỉnh Sơn La;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La;
  • - Cục THADS tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La.;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo; NLQ
  • - Phòng KTNV- THA;
  • - Lưu HS-AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuấn Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2024/HSST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 158/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hương L phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger