|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 158/2024/HS-ST Ngày: 26-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hạnh - Là cán bộ hưu trí
- Bà Lê Thị Thanh Nhàn - Là giám đốc Trung tâm văn hóa thành phố Bảo Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Thanh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 155/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Hoàng Thái B, tên gọi khác: Bảo xinh, sinh ngày: 06/08/2007 tại Đồng Nai; hộ khẩu thường trú và cư trú: Số C B, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ học vấn: 08/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B1, sinh năm 1985 và con bà Bùi Thị L, sinh năm: 1989, cả hai hiện cư trú tại số C B, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không.
- Tiền sự: Ngày 08/02/2023, bị Ủy ban nhân dân xã L, thành phố B ra Quyết định giáo dục tại xã phường 06 tháng kể từ ngày 08/02/2023 về hành vi vi phạm “Gây rối trật tự công cộng”.
- Nhân thân:
- + Ngày 19/7/2021, bị Công an thành phố B xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Gây mất trật tự ở khu dân cư” theo Quyết định xử phạt hành chính số 51/QĐ-XPHC ngày 19/07/2021.
- + Ngày 06/11/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo bản án 149/2024/HS-ST.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 12/5/2024 (Có mặt).
2. Họ và tên: Võ Hoàng L1, tên gọi khác: T, sinh ngày: 19/5/1996 tại Lâm Đồng; hộ khẩu thường trú: Số A N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Số D P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Lâm S, sinh năm 1964 và con bà: Đặng Thị H, sinh năm 1973, trú tại: số A N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vợ: Trần Thị Diễm C, sinh năm 1997 (đã ly hôn), con: Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019. Hiện vợ, con đang sinh sống tại thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 23/4/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 04 năm về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo bản án hình sự sơ thẩm số: 183/2024/HS-ST.
Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 12/5/2024 đến nay (Có mặt).
3. Họ và tên: Nguyễn Đức Anh K, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 02/11/2006 tại Lâm Đồng; hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 07/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định và con bà Nguyễn Thị Minh T1, sinh năm 1989, trú tại xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.
- Tiền án: Ngày 26/6/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án về tội “Buôn bán hàng cấm” theo bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2023/HS-ST.
- Nhân thân: Ngày 10/01/2020, bị Công an xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 12/5/2024 cho đến nay (Có mặt).
4. Họ và tên: Nguyễn Hoàng T2, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 23/9/2005 tại Lâm Đồng; hộ khẩu thường trú và cư trú: Số B L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng L2, sinh năm 1971 và con bà Lã Ngọc T3, sinh năm 1972, cả hai hiện trú tại số B L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/8/2024 cho đến nay (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Hoàng Thái B: Ông Trần Văn B1, sinh năm 1985 và bà Bùi Thị L, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Số C B, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Bà L có mặt, ông B1 vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Đức Anh K: Bà Nguyễn Thị Minh T1, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng (Có mặt).
Người bào chữa cho các bị cáo Trần Hoàng Thái B, Nguyễn Đức Anh K: Ông Vũ Cát Đ và ông Lê Anh V - Là trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Ông Đ có mặt, ông V vắng mặt).
Bị hại: Anh Phan Bá Phương N, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lê Thị Minh N1, sinh năm: 2003; nơi cư trú: Số I L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt).
- Ông Trần Văn K1, sinh năm: 1980; nơi cư trú: Số A P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Minh T4, sinh năm: 1964; nơi cư trú: Số D P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt).
Người làm chứng:
- Cháu Nguyễn Hoàng Bảo N2, sinh năm 2008; nơi cư trú: Số E L, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt).
- Cháu Hoàng Ngọc C1, sinh ngày: 08/06/2007 tại Lâm Đồng; nơi cư trú: Số F T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp cho cháu Bảo N2: Ông Nguyễn Văn H1, bà Lê Thị Hồng T5; nơi cư trú: Số E L, phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp cho cháu Hoàng Ngọc C1: Ông Hoàng Trung K2, sinh năm 1977; bà Hà Thị N3, sinh năm: 1988, nơi cư trú: Hẻm E T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2024 Trần Hoàng Thái B cùng với Phan Bá Phương N sinh năm 2004, nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, thành phố B; Hoàng Ngọc C1, sinh ngày 08/06/2007, nơi cư trú: số F T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; Phan Thị Anh T6, sinh năm 2007 (em gái của N) và Nguyễn Minh Gia B2 (B2 cháy), sinh năm 2005, trú tại số I L, phường L, thành phố B đã mang chiếc xe mô tô biển số 49V1- 9803 của ông Hoàng Trung K2, sinh năm 1977, trú tại: hẻm E T, phường L, thành phố B (bố ruột của C1) cầm cố để lấy tiền mua ma túy sử dụng chung. Sau đó ông C1 đã đưa cho Trần Hoàng Thái B số tiền 4.500.000đ để chuộc lại chiếc xe trên. B nói ông K2 “sao chú không nói mấy đứa kia trả tiền nữa”. Ông K2 nói “tao không lấy, mày lấy được tao cho mày hết”. Sau đó B đến gặp N và những người còn lại yêu cầu mỗi người đưa cho B số tiền 800.000đ để trả lại cho ông K2 thì mọi người đồng ý nhưng sau nhiều lần chưa lấy đủ tiền nên B yêu cầu N phải trả số tiền 3.000.000₫ gồm phần tiền của N, Phan Thị Anh T6 (em gái của N) và Hoàng Ngọc C1 (bạn trai của T6) nhưng N không trả.
Tối ngày 10/5/2024 Trần Hoàng Thái B rủ Nguyễn Đức Anh K, Nguyễn Hoàng T2, Võ Hoàng L1 và Lê Nguyễn Minh K3, sinh năm 2001, trú tại: tổ C, thị trấn L, huyện B đi tìm N để đòi nợ nhưng không tìm được, cả nhóm đã đến phòng trọ của T6 tại hẻm G T, L, thành phố B thì gặp T6 và C1. L1 yêu cầu T6 và C1 đi về phòng trọ của mình tại số C D P, phường L, thành phố B để giải quyết số tiền nợ nhưng T6 và C1 nói “chưa có, muốn giải quyết nợ thì phải hỏi anh N”. Sau đó T6 đưa điện thoại của mình cho C1 sử dụng và cùng Nguyễn Minh Gia B2 và đi về, còn C1 thì L1 yêu cầu ở lại để ngày hôm sau đi tìm N. Tại phòng trọ của L1, Nguyễn Đức Anh K, Trần Hoàng Thái B, Hoàng Ngọc C1 và L1 sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy xong thì K, B, T2 đi về còn C1 ngủ lại tại đây.
Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 11/5/2024 L1 nói C1 nhắn tin cho N đến phòng trọ của L1. C1 dùng tài khoản zalo trên điện thoại của T6 nhắn tin rủ N đến phòng trọ của L1, N nghĩ là T6 nhắn tin nên đã đồng ý đi. Đến khoảng 12 giờ K, B, T2 cũng đến phòng trọ của L1. Tại đây có thêm chị Lê Thị Minh N1, sinh năm 2003, nơi cư trú số B Hà Giang, phường L, thành phố B và Nguyễn Hoàng Bảo N2, sinh năm 2008, trú tại phường A, thành phố B. Khoảng 14 giờ cùng ngày N đến cổng nhà thờ T10 thì L1 nói T2, C1 ra đón và dẫn N tới phòng trọ của L1. Khi N đến nơi, K từ phòng trọ đi ra nắm cổ áo N kéo vào trong phòng và đóng cửa. Trong phòng trọ, B dùng chân đá 01 cái vào người N và bắt N ngồi sát bức tường nhà vệ sinh, mặt quay ra hướng cửa chính rồi dùng tay tát vào mặt và đầu N, K dùng tay tát khoảng 03 cái vào đầu và dùng chân đá vào người N. Lúc này L1 nói T2 canh chừng xe mô tô để phía trước vì sợ bị mất trộm nên T2 ngồi trước cửa phòng trọ vừa xem điện thoại và trông xe. L1 tiến đến vị trí N đang ngồi dùng chân phải đạp 01 cái vào ngực N và nói “tiền tao mày dắt hơi lâu” nhưng N không thừa nhận về số tiền nợ nên L1 đã dùng tay phải cầm 01 con dao tự chế dài 88cm bằng kim loại kê lên vai của anh N, hướng phần lưỡi dao vào cổ anh N đe dọa N và nói “mày chơi bời sao cho sòng phẳng” rồi L1 cất con dao về chỗ cũ. Tiếp đó B dùng tay phải cầm chiếc mũ bảo hiểm của N đánh 01 cái vào đầu gối chân trái của N và hỏi “tiền còn bao nhiêu” và yêu cầu N bỏ tiền ra ngoài. Anh N lấy 70.000đ (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 50.000đ và 01 tờ tiền mệnh giá 20.000đ) trong túi quần bỏ xuống nền nhà. Tiếp đó, B lục tìm trong túi đeo chéo của N nhưng không có tài sản gì, còn K thì móc túi quần phía trước bên trái của N lấy ra 01 chiến điện thoại nhãn hiệu OPPO A15S màu xanh đưa cho B và B để chiếc điện thoại này lên bàn. Sau đó B, L1, K tiếp tục chửi bới N, đồng thời B lấy số tiền 70.000đ của N đi đến quán T11 tại số D P, phường L, thành phố B do bà Nguyễn Thị Minh T4, sinh năm 1964 làm chủ mua nước, bánh, thuốc lá và card điện thoại mang về phòng trọ sử dụng.
Khi B quay về phòng trọ thì N xin tha và xin về nhà bà ngoại N (là bà Bùi Thị T7, sinh năm 1960, nơi cư trú thôn D, xã Đ, thành phố B) để lấy tiền trả nợ. Nghe vậy L1 đồng ý nên gọi điện thoại đến tổng đài taxi hãng LADO đặt xe, sau đó anh Trần Văn K1, sinh năm 1980, nơi cự trú số A P, phường L, thành phố B là tài xế taxi LADO đến đón L1 và N đi về nhà bà ngoại N. Tại đây, N và bà T7 hẹn L1 khoảng 01 tiếng sau sẽ đem số tiền 3.000.000đ đến phòng trọ trả cho L1 thì L1 đồng ý đi xe taxi quay về lại phòng trọ. Về đến phòng trọ do không có tiền trả taxi, L1 nói T2 đem chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được của N đưa cho tài xế taxi. Nghe vậy T2 cầm chiếc điện thoại này ra đưa cho anh K1 để cầm cố trả tiền taxi cho L1. Còn N đã đến công an phường L tiến trình báo sự việc.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐGTS ngày 06/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kêt luận: Gía trị tại thời điểm ngày 11/5/2024 của 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S, số IMEI: 862562050354931 là 800.000đ (tám trăm ngàn đồng).
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S của anh Phan Bá Phương N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 màu xanh dương gắn sim số 0876295763 và 0979607723 do Võ Hoàng L1 nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng do Lê Thị Minh N1 nộp; 01 con dao tự chế bằng kim loại, tổng chiều dài 88cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 45cm, rộng 3.5cm, có một cạnh sắc, mũi dao nhọn, cán hình trụ tròn dài 43cm; 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng, có logo màu đỏ đen; 70.000đ (gồm 01 tờ mệnh giá 50.000đ; 01 tờ mệnh giá 20.000đ) do bà Nguyễn Thị Minh T4 giao nộp.
Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra các bị cáo Võ Hoàng L1, Nguyễn Đức Anh K và Trần Hoàng Thái B đã tự nguyện bồi thường cho anh Phan Bá Phương N số tiền 15.000.000đ, sau khi nhận số tiền này anh N không có yêu cầu gì về dân sự. Ông Trần Văn K1, bà Nguyễn Thị Minh T4 không có yêu cầu gì về phần dân sự.
Cáo trạng số 159/CT-VKSBL ngày 24/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc truy tố các bị cáo Trần Hoàng Thái B, Võ Hoàng L1 và Nguyễn Đức Anh K về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T2 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Trần Hoàng Thái B, Võ Hoàng L1 và Nguyễn Đức Anh K phạm tội “Cướp tài sản”; tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58, 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hoàng Thái B từ 07 đến 08 năm tù.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 56, 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Hoàng L1 từ 08 đến 09 năm tù. Tổng hợp hình phạt 02 năm tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại bản án số 183/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; buộc bị cáo phải chấp hành chung là 10 đến 11 năm tù.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 56, 58, 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A Khoa từ 07 đến 08 năm tù. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm” tại bản án số 74/2023/HS-ST ngày 26/6/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc; buộc bị cáo phải chấp hành chung là 08 đến 09 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T2 từ 09 đến 12 tháng tù.
Về vật chứng:
- Trả lại cho anh Phan Bá Phương N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S, số tiền 70.000đ (gồm 01 tờ mệnh giá 50.000đ; 01 tờ mệnh giá 20.000đ).
- Trả lại cho chị Lê Thị Minh N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng.
- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự chế bằng kim loại, tổng chiều dài 88cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 45cm, rộng 3.5cm, có một cạnh sắc, mũi dao nhọn, cán hình trụ tròn dài 43cm; 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng, có logo màu đỏ đen.
- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 màu xanh dương gắn sim số 0876295763 và 0979607723.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
* Ông Vũ Cát Đ là người bào chữa cho các bị cáo Trần Hoàng Thái B, Nguyễn Đức Anh K trình bày: Ông thống nhất với quan điểm của đại diện viện kiểm sát trong việc áp dụng điều luật, tội danh đối với các bị cáo. Các bị cáo này phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, ông đề nghị Hội đồng xét xử áp các tình tiết giảm nhẹ b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, 91 Bộ luật hình sự. Xử phạt các bị cáo ở mức thấp nhất mà đại diện viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa.
* Các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, thừa nhận Viện kiểm sát truy tố các bị cáo như vậy là không oan. Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định:
Khoảng 14 giờ ngày 11/5/2024 tại phòng trọ số C D P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, Võ Hoàng L1, Trần Hoàng Thái B, Nguyễn Đức Anh K đã thực hiện hành vi dùng 01 con dao tự chế dài 88cm bằng kim loại kê lên vai của anh Phan Bá Phương N để đe dọa, sau đó dùng tay, chân, mũ bảo hiểm đánh vào đầu, mặt và người anh N nhằm chiếm đoạt số tiền 70.000đ (bảy mươi ngàn đồng) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S trị giá 800.000đ (tám trăm ngàn đồng).
Còn Nguyễn Hoàng T2 biết rõ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S do các bị cáo L1, K, B phạm tội mà có nhưng vẫn mang đi thế chấp để trả tiền taxi cho bị cáo L1.
Trong khi, các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý.
Vì vậy, hành vi của bị cáo Trần Hoàng Thái B, Võ Hoàng L1 và Nguyễn Đức Anh K đã phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T2 đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Võ Hoàng L1, Nguyễn Đức A Khoa phạm tội khi đang có tiền án nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ:
- + Quá trình điều tra và tại phiên tòa tất cả các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- + Bị cáo Nguyễn Hoàng T2 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- + Các bị cáo Trần Hoàng Thái B, Võ Hoàng L1 và Nguyễn Đức Anh K đã bồi thường thiệt hại và được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về vai trò của các bị cáo: Đối với tội “Cướp tài sản” thì các bị cáo Trần Hoàng Thái B, Võ Hoàng L1 và Nguyễn Đức A Khoa nhất thời phạm tội, không có sự bàn bạc, phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể, chặt chẽ cho từng bị cáo nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên mức độ tham gia, thực hiện hành vi của bị cáo B và L1 lớn hơn bị cáo K nên vai trò của hai bị cáo này cao hơn bị cáo K.
[5] Về hình phạt chính: Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, không những xâm phạm đến thân thể, sức khỏe, danh sự mà còn trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần phải có mức án tương xứng với hành vi của các bị cáo.
- Đối với các bị cáo Trần Hoàng Thái B, Võ Hoàng L1 và Nguyễn Đức A Khoa phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, có nhân thân xấu, đang có tiền án, tiền sự. Vì vậy, phải xử phạt tù có thời hạn nhất thiết cách ly các bị cáo này ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T2 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, thấy không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa thể hiện các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định khoản 6 Điều 168 và khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng:
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S, số tiền 70.000đ (gồm 01 tờ mệnh giá 50.000đ; 01 tờ mệnh giá 20.000đ). Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của anh Phan Bá Phương N nên cần trả lại cho anh N.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của chị Lê Thị Minh N1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chị N1.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 màu xanh dương gắn sim số 0876295763 và 0979607723. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của bị cáo Võ Hoàng L1, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng bị cáo L1 không có nhu cần nhận lại mà đề nghị sung công nên cần sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 con dao tự chế bằng kim loại, tổng chiều dài 88cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 45cm, rộng 3.5cm, có một cạnh sắc, mũi dao nhọn, cán hình trụ tròn dài 43cm và 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng, có logo màu đỏ đen. Xét thấy, đây là hung khí mà bị cáo Trần Hoàng Thái B, Võ Hoàng L1 và Nguyễn Đức Anh K dùng để thực hiện hành vi phạm tội, giá trị còn lại không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
- - Các bị cáo Trần Hoàng Thái B, Võ Hoàng L1 và Nguyễn Đức Anh K đã bồi thường số tiền 15.000.000đ cho bị hại anh phan Bá Phương N. Hiện nay, anh N không có yêu cầu bồi thường thêm về dân sự nên không xem xét đến.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn K1 và bà Nguyễn Thị Minh T4 không có yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự nên không xem xét đến.
[9] Bị cáo Võ Hoàng L1 đang phải chấp hành hình phạt 02 năm tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại bản án số 183/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; còn bị cáo Nguyễn Đức Anh K đang phải chấp hành hình phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm” tại bản án số 74/2023/HS-ST ngày 26/6/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc nhưng cả hai bị cáo này đều phạm tội mới. Vì vậy, căn cứ vào khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự buộc hai bị cáo này phải chấp hành hình phạt của hai bản án cho hưởng án treo nêu trên.
[10] Về các vấn đề khác:
- - Đối với hành vi của ông Hoàng Trung K2 hứa cho bị cáo Trần Hoàng T8 Bảo tiền nếu B đòi được 3.000.000₫ mà anh Phan Bá Phương N đã nợ. Tuy nhiên, ông K2 không biết thủ đoạn, phương thức bị cáo B cùng đồng phạm thực hiện. Vì vậy, Cơ quan điều tra không tuy cứu trách nhiệm hình sự của ông K2 là đúng quy định của pháp luật.
- - Đối với bà Nguyễn Thị Minh T4 đã bán hàng cho B và nhận số tiền 70.000₫ mà mà các bị cáo chiếm đoạt của anh N. Tuy nhiên, bà T4 cũng không biết đây là số tiền các bị cáo phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự của bà T4 là đúng quy định của pháp luật.
- - Đối với anh Trần Văn K1 đã nhận cầm cố chiếc điện thoại OPPO A15S từ bị cáo Nguyễn Hoàng T2. Tuy nhiên, anh K1 không biết đây là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự của anh K1 là đúng quy định của pháp luật.
- - Đối với Hoàng Ngọc C1, Lê Thị Minh N1, Nguyễn Hoàng Bảo N2 có mặt tại phòng trọ của bị cáo L1 lúc xảy ra sự việc phạm tội. Tuy nhiên những người này không có hành động gì giúp sức cho các bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của anh N nên không đồng phạm tội “Cướp tài sản”. Đồng thời ngay sau khi sự việc xảy ra C1, N1 và N2 đã khai báo thành khẩn và hợp tác với cơ quan công an, không che giấu sự việc nên không cấu thành tội “Không tố giác tội phạm”. Vì vậy, Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự của những người này là đúng quy định của pháp luật.
- - Đối với hành vi có dấu hiệu tội phạm “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của Trần Hoàng Thái B, Nguyễn Minh Gia B2, Phan Bá Phương N, Phan Thị Anh T6, Hoàng Ngọc C1, Lê Nguyễn Minh K3, Võ Hoàng L1 vào đầu năm 2024 tại nhà của Phan Bá Phương N và ngày 10/5/2024 tại phòng trọ của Võ Hoàng L1. Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã tách ra thành một nguồn tin tội phạm riêng để tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[11] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Trần Hoàng Thái B, Võ Hoàng L1 và Nguyễn Đức A Khoa phạm tội “Cướp tài sản”.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58, 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hoàng Thái B 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2024.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 56, 58, 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Hoàng L1 08 (Tám) năm tù. Tổng hợp hình phạt 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại bản án số 183/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; buộc bị cáo phải chấp hành chung là 10 (Mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2024.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 56, 58, 65, 90, 91, 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức A Khoa 07 (Bảy) năm tù. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm” tại bản án số 74/2023/HS-ST ngày 26/6/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc; buộc bị cáo phải chấp hành chung là 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T2 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng T2 cho UBND phường L, thành phố B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thi hành án thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Trả lại cho anh Phan Bá Phương N: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S số IMEI: 862562050354931 và số tiền 70.000đ (gồm 01 tờ mệnh giá 50.000đ; 01 tờ mệnh giá 20.000₫).
- - Trả lại cho chị Lê Thị Minh N1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng bị rạn nứt màn hình.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12 màu xanh dương, số IMEI2: 866109042335358, số IMEI1: 866109042335341.
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại, tổng chiều dài 88cm, lưỡi dao dài 45cm, cán dao dài 43cm.
- + 01 (một) mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu trắng, có logo in chữ “TRƯƠNG GIA” màu đỏ, tình trạng đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc và giấy ủy nhiệm chi số 160 ngày 28/10/2024).
3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Trần Hoàng Thái B, Võ Hoàng L1 và Nguyễn Đức Anh K và Nguyễn Hoàng T2, mỗi người phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Khắc Phong |
Bản án số 158/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự về tội cướp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 158/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Cướp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Hoàng L và đồng phạm phạm tội Cướp tài sản
