Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 158/2024/HSST

Ngày 20 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khả

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Bảo Hiếu
  2. Ông Nguyễn Văn Hoàng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đưa ra xét xử sơ thẩm và tuyên án công khai vụ án hình sự thụ lý số 144/2024/TLST-HS ngày 21/6/2024 bằng hình thức trực tuyến tại điểm cầu Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh và điểm cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đối với các bị cáo:

I.1. Nguyễn Thanh Duy T; giới tính: nam; sinh năm: 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: số A T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Thanh H (chết) và bà Đặng Thị L (chết). Có vợ và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2018. (có mặt)

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân:

  • - Ngày 14/6/2007, bị Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh bắt. Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 10 tháng tù giam về tội “Sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo bản án số 33/HSST ngày 07/3/2008. Tổng hợp hình phạt các tội là 04 năm 04 tháng tù giam. Chấp hành xong hình phạt ngày 30/8/2010 và đã đóng án phí vào ngày 23/6/2008 (bút lục 172).
  • - Ngày 26/10/2011, bị Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh bắt. Tòa án nhân dân Quận 1 xử 02 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 157/HSST ngày 31/7/2012, Tòa án nhân dân Quận 4 xử phạt 02 năm tù giam, tổng hợp bản án số 157/HSST ngày 31/7/2012 là 04 năm 04 tháng theo bản 169/2012/HSST ngày 26/9/2012. Chấp hành xong hình phạt ngày 26/7/2015 và đã đóng án phí ngày 10/12/2012 và tháng 6/2013 (bút lục 173, 267)

Tạm giam từ ngày 22/3/2023 đến nay tại trại tạm giam T30.

I.2. Võ Công M; giới tính: nam; sinh năm: 1995 tại Bình Phước; nơi thường trú: Tổ G, sở Xiêm, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Võ H1 và bà Hà Thị S. Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ hai. (có mặt)

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: Ngày 29/3/2023, bị Công an tỉnh Q khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tạm giam từ ngày 09/3/2023 đến nay tại trại tạm giam của Công an tỉnh Q.

I.3. Bùi Ngọc Diệu H2; giới tính: nữ; sinh năm: 1992 tại Kon Tum; nơi thường trú: 295/79 Phạm Văn Đ, Tổ A, phường T, TP ., tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Số A, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ; nghề nghiệp: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Bùi Ngọc T1 và bà Ngô Thị T2. Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2022. (có mặt)

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo tại ngoại.

II. Những người tham gia tố tụng:

Bị hại:

  1. Bà Huỳnh Anh T3; địa chỉ: A Đ, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Văn T4; địa chỉ: D P, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Cao Xuân T5; địa chỉ: Số B Khu C, thị trấn V, huyện T, Thành phố Hà Nội. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/02/2023, anh Nguyễn Văn T4 thuê Nguyễn Thanh Duy T làm tài xế lái xe và giao cho T xe ô tô hiệu Chevrolet Spark, biển số: 51F-763.87, thời gian làm việc của T từ 07 giờ 30 phút đến 17 giờ 30 phút hàng ngày. Sau khi hết giờ làm thì T đem xe về đậu tại lô C, chung cư N (địa chỉ: số G N, Phường A, quận B) để giao lại cho anh T4. Trong khoảng thời gian chạy xe, T thấy khoảng thời gian từ 17 giờ 30 phút đến 19 giờ hàng ngày không có ai trông giữ xe nên T nảy sinh ý định trộm cắp xe ô tô trên.

Ngày 01/3/2023, T nhắn tin qua zalo cho Võ Công M (là bạn quen biết ngoài xã hội) và rủ M lấy trộm xe ô tô trên, M đồng ý. T nhắn tin cho M biết khoảng thời gian có thể lấy trộm, cho M biết vị trí đậu xe ô tô và chụp hình xe ô tô gửi cho M. T nói M khi nào lấy được xe thì chạy xuống Vũng Tàu giao cho khách của T, T sẽ chia cho M số tiền 15.000.000 đồng, nhưng do M không quen khách của T nên không đồng ý. Do đó, T thỏa thuận với M để M bán xe, khi nào bán được xe thì phải chia cho T số tiền là 35.000.000 đồng thì M đồng ý và cho T biết khi nào lấy trộm xe sẽ báo cho T biết. Sau đó, T lên mạng tìm người đặt làm thêm 01 chìa khóa xe ô tô để giao cho M. Ngày 03/3/2023, M hẹn gặp T tại đường N, quận B để đưa chìa khóa xe ô tô cho M và chỉ cho M biết vị trí gắn định vị của xe để khi M lấy trộm được xe thì tháo bỏ.

Khoảng 14 giờ ngày 04/3/2023, M nhắn tin giả vờ làm tài xế cho T và được T đồng ý, mục đích là để khi lấy trộm xe bị phát hiện thì nói là lấy xe đi giao hàng cho T. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T đi giao hàng cho anh T4 xong thì về đậu xe tại lô C, chung cư N rồi đi về nhà. Khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, M đến chỗ đậu xe, sử dụng chìa khóa do T đưa trước đó, mở cửa xe vào bên trong nổ máy và lấy trộm xe. Khi đến thành phố T (không rõ địa chỉ) thì M dừng lại, tháo bỏ định vị trên xe rồi tiếp tục chạy xe đi. Trên đường đi, M nhắn tin cho Bùi Ngọc D H2 nói có lấy trộm được 01 chiếc xe ô tô hiệu Chevrolet Spark, biển số: 51F-763.87 và nhờ H2 giữ giúp, H2 đồng ý. M chạy xe đến nhà H2 gửi rồi khóa cửa xe (không đóng cửa kính) và cầm chìa khóa về. Sau đó, M nhắn tin nhờ H2 tìm chỗ bán xe giúp, H2 lên mạng xã hội tìm người mua xe và được người sử dụng tài khoản Telegram lên “Jacki Chow” (không rõ lai lịch) trả giá 45.000.000 đồng, H2 nói lại cho M nhưng M không đồng ý bán.

Ngày 07/3/2023, M bị Công an tỉnh Q bắt về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. H2 không liên lạc được với M nên nhắn tin với H3 (không rõ lai lịch) qua zalo để hỏi thông tin về M thì được biết M bị Công an tỉnh Q bắt. H3 hỏi H2 về xe ô tô mà M trộm thì H2 nói đang giữ xe nhưng không có chìa khóa nên không chạy được thì H3 nói để H3 xử lý.

Khoảng 19 giờ ngày 08/3/2023, có người sử dụng tài khoản Telegram tên “Ngoài bắc 1” (không rõ lai lịch) gọi cho H2 hỏi xe đang ở đâu để cho người đến lấy thì H2 có nói là xe đang để ở nhà nhưng không có chìa khóa, người này nói để kêu thợ đến làm chìa khóa. Khoảng 08 giờ ngày 09/3/2023, có 02 người đàn ông (không rõ lai lịch) đến nhà H2 làm chìa khóa và giao cho H2, H2 trả tiền công 2.000.000 đồng sau đó được H3 chuyển trả lại số tiền 2.400.000 đồng từ tài khoản tên PHAM TUAN ANH tại Ngân hàng TMCP C. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, nhân viên Công ty V (do anh Cao Xuân T5 làm giám đốc) được thuê vận chuyển xe liên lạc với H2 để lấy xe và vận chuyển đi Hà Nội. Khi đến trạm thu phí cao tốc Đ1 - Quảng Ngãi thì bị Công an tỉnh Đ kiểm tra phát hiện xe biển số 51F-763.87 của anh T5 mất trộm nên tạm giữ xe và thông báo cho Cơ quan điều tra Công an quận B tiếp nhận, xử lý.

Kết quả xác minh hiện nay Võ Công M đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q khởi tố bị can và bắt tạm giam về tôi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Cơ quan điều tra Công an quận B lấy lời khai Võ Công M và mời Nguyễn Thanh Duy T cùng Bùi Ngọc Diệu H2, các bị can thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bản kết luận định giá tài sản số 79/KLĐGTS-TCKH ngày 11/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 xe ô tô 05 chỗ hiệu Chevrolet Spark đời 2016, biển số 51F-763.87 có giá trị 110.000.000 đồng.

Vật chứng gồm:

  • - 01 xe ô tô hiệu Chevrolet Spark, biển số 51F-763.87; 01 giấy đăng ký xe mang tên Huỳnh Anh T3; 01 giấy đăng kiểm xe. Kết quả xác minh chiếc xe trên do chị Huỳnh Anh T3 (là bạn gái anh Nguyễn Văn T4) đứng tên chủ sở hữu. Chị T3 giao xe trên cho anh T4 sử dụng, chị T3 có yêu cầu giao lại xe cho anh T4 nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cùng giấy đăng ký xe cùng kiểm định xe cho anh T4 (bút lục 67).
  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung S10 của Nguyễn Thanh Duy T.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo reno6 Z 5G của Bùi Ngọc Diệu H2.
  • - 01 USB ghi hình Võ Công M trộm xe ô tô hiệu Chevrolet Spark, biển số: 51F-763.87

Trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn T6 và chị Huỳnh Anh T3 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự (bút lục 61, 69).

Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKSBTh ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Duy T và Võ Công M về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Bùi Ngọc Diệu H2 về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị mức án đối với bị cáo như sau:

  • Nguyễn Thanh Duy T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù giam;
  • Võ Công M từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù giam;
  • Bùi Ngọc D H2 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng từ giam.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, lời khai của người bị hại và nhân chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của pháp luật.

Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thu thập và bị cáo cung cấp đều thực hiện đúng quy trình, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó những chứng cứ tài liệu trong vụ án đều hợp pháp

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

[2.1] Tại cơ quan điều tra cũng như thẩm tra xét hỏi tại phiên toà hôm nay,

Hội đồng xét xử nhận thấy, các bị cáo Nguyễn Thanh Duy T, Võ Công M và Bùi Ngọc Diệu H2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hại, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, cho thấy: Vào khoảng 14 giờ ngày 04/3/2023, tại lô C, chung cư N (địa chỉ: số G N, Phường A, quận B), Nguyễn Thanh Duy T đã cấu kết với Võ Công M trộm cắp 01 xe ô tô hiệu Chevrolet Spark, biển số: 51F-763.87 trị giá 110.000.000 đồng của chị Huỳnh Anh T3 và anh Trần Văn T6 giao cho Bùi Ngọc Diệu H2 giữ và kiếm người mua thì bị phát hiện bắt giữ.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 79/KLĐGTS-TCKH ngày 11/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 xe ô tô 05 chỗ hiệu Chevrolet Spark đời 2016, biển số 51F-763.87 có giá trị 110.000.000 đồng.

[2.2] Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh Duy T, Võ Công M

là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì lười lao động muốn có tiền tiêu xài, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản của bị hại. Đây là lỗi cố ý của bị cáo.

Hành vi của bị cáo Bùi Ngọc D Hương Hành là gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, bị cáo biết rõ đây là tài sản do người khác phạm tội mà có, nhưng bị cáo vẫn chứa chấp tài sản. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình, lẽ ra bị cáo ngăn cản hành vi của của bị cáo T và bị cáo M. Tuy nhiên, bị cáo vì lợi ích cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh Duy T và Võ Công M “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Bùi Ngọc D H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm c khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo Nguyễn Thanh Duy T, Võ Công M và Bùi Ngọc D H2 là người có đủ tuổi trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

+Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản được trả cho người bị hại, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng: Xét vai trò bị cáo T là người khởi xướng, bị cáo M là người thực hành. Xét bị cáo có vai trò đồng phạm nên Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình.

Đối với đối tượng sử dụng tài khoản Telegram tên “Ngoài bắc 1” Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Điều tra xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Do đó, Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội danh và khung hình phạt.

+Về trách nhiệm dân sự và vật chứng:

Vật chứng gồm:

  • - 01 xe ô tô hiệu Chevrolet Spark, biển số 51F-763.87; 01 giấy đăng ký xe mang tên Huỳnh Anh T3; 01 giấy đăng kiểm xe. Kết quả xác minh chiếc xe trên do chị Huỳnh Anh T3 (là bạn gái anh Nguyễn Văn T4) đứng tên chủ sở hữu. Chị T3 giao xe trên cho anh T4 sử dụng, chị T3 có yêu cầu giao lại xe cho anh T4 nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cùng giấy đăng ký xe cùng kiểm định xe cho anh T4. Xét phù hợp với quy định của pháp luật.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung S10 của Nguyễn Thanh Duy T. Xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo reno6 Z 5G của Bùi Ngọc Diệu H2. Xét đây là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - 01 USB ghi hình Võ Công M trộm xe ô tô hiệu Chevrolet Spark, biển số: 51F-763.87. Xét liên quan đến vụ án nên tịch thu lưu hồ sơ vụ án.

Trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn T6 và chị Huỳnh Anh T3 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố:

bị cáo Nguyễn Thanh Duy T, bị cáo Võ Công M phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 và bị cáo Bùi Ngọc D Hương phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm c khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Duy T 04 (bốn) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2023.

Xử phạt bị cáo Võ Công M 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 09/3/2023.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc Diệu H2 03 (ba) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2/ Áp dụng

Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

+ Tịch thu lưu hồ sơ vụ án:

  • -01 USB ghi hình Võ Công Minh trộm xe ô tô hiệu Chevrolet Spark, biển số: 51F-763.87.

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo reno6 Z 5G của Bùi Ngọc Diệu H2.

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh Duy T:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung S10 của Nguyễn Thanh Duy T.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/3/2024 của các bị cáo giữa công an quận B và Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh)

3/Áp dụng

Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các bị cáo; người bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND TP. HCM;
  • - TAND, VKSND quận Bình Thạnh;
  • - Nhà tạm giữ - CA quận Bình Thạnh;
  • - Chi cục THA quận Bình Thạnh;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - PC.54 Công an Tp.HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP - HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Khả

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2024/HSST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự (trộm cắp tài sản và chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 158/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Trộm cắp tài sản và Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản, Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger