|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 158/2024/HS-PT Ngày: 03-12-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Tâm.
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Văn Bình; ông Phạm Văn Diệp.
- Thư ký phiên tòa: ông Ngô Tấn Tài, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Út nhỏ, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 171/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Thị H; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 104/2024/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Bị cáo kháng cáo
- Họ và tên: Phạm Văn N, sinh năm 1982, tại tỉnh Tây Ninh; giới tính: nam. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố A, thị trấn D, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: Ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao đài; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/12; con ông Phạm Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị A (đã chết); có vợ tên: Nguyễn Thị H (là bị cáo trong vụ án) và 03 người con (lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2020). Tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên Nguyễn Thị H, sinh năm 1985, tại tỉnh Tây Ninh; giới tính: nữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố A, thị trấn D, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao đài; nghề nghiệp: bán vé số. Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Phan Thị T; có chồng tên Phạm Văn N (là bị cáo trong vụ án) và 03 người con (lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2020). Tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Anh Lê Văn T1, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; không triệu tập.
- Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1970; nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; không triệu tập.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1971; nơi cư trú: Ấp G, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 4-2022, Phạm Văn N và Nguyễn Thị H là vợ chồng có nhận chuyển nhượng 03 thửa đất số 16, 18, 20, tờ bản đồ số 02, diện tích 52.512,9 m², có địa chỉ tại ấp G, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh của ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1965, nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, trên đất có trồng cây cao su, với giá tiền 4.680.000.000 đồng, do vợ chồng N chưa trả đủ tiền cho ông Q nên chỉ làm giấy tờ mua bán đất, chưa làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Đến ngày 31-3-2023, vợ chồng N, H chuyển nhượng diện tích đất trên cho vợ chồng ông Nguyễn Sỹ T3, sinh năm 1975, nơi cư trú: Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, với số tiền 3.500.000.000 đồng, ông T3 đã thanh toán đủ tiền cho vợ chồng N. Sau đó, vợ chồng N đã trả hết tiền cho gia đình ông Q và làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cây cao su trên đất cho vợ chồng ông T3.
Đến khoảng tháng 8-2023, biết ông T3 đang ở xa không có điều kiện thăm vườn cây cao su thường xuyên nên N và H đưa thông tin cây cao su trên diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông T3 là của mình và rao bán cho người khác để lấy tiền trả nợ. Ngày 21-8-2023, thông qua người giới thiệu, anh Lê Văn T1, sinh năm 1981 và anh Phan Văn H2, sinh năm 1970 cùng cư trú tại ấp Đ, xã T, huyện T đến nhà gặp N và H để mua cây cao su mà N đang kêu bán. Anh T1, anh H2 thỏa thuận và lập hợp đồng mua toàn bộ cây cao su vợ chồng N kêu bán, với giá là 380.000.000 đồng, đưa trước 180.000.000 đồng, số tiền còn lại 200.000.000 đồng sẽ thanh toán trước ngày 30-11-2023. Sau khi ký hợp đồng xong, anh H2 và anh T1 đã đưa cho N và H số tiền 180.0000.000 đồng, vợ chồng N đã dùng số tiền trên trả nợ và tiêu xài hết. Đến ngày 15-9-2023, ông T3 đi thăm vườn cao su và biết được thông tin vợ chồng N đã bán cây cao su trên đất của mình cho anh H2. Ông T3 điện thoại nói cho anh H2 biết là 03 thửa đất nêu trên và cây cao su là của vợ chồng ông T3 đứng tên chủ sở hữu và sử dụng, không phải của vợ chồng N. Ngày 17-10-2023, anh H2 làm đơn tố cáo hành vi của N và H đến Cơ quan Công an.
Quá trình điều tra Phạm Văn N và Nguyễn Thị H thừa nhận do cần tiền trả nợ nên Phạm Văn N và Nguyễn Thị H biết rõ vườn cây cao su trên diện tích 52.512,9 m² đất tại ấp G, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh là của người khác nhưng đã dùng thủ đoạn gian dối lừa bán vườn cây cao su trên cho anh Phan Văn H2, Lê Văn T1 để chiếm đoạt số tiền 380.000.000 đồng.
- Kết quả xử lý vật chứng: không có.
- Về kê biên tài sản: Phạm Văn N và Nguyễn Thị H không có tài sản riêng nên Cơ quan điều tra không tiến hành kê biên.
- Về trách nhiệm dân sự: anh Phan Văn H2 yêu cầu bồi thường số tiền 90.000.000 đồng và anh Lê Văn T1 yêu cầu bồi thường số tiền 90.000.000 đồng nhưng Phạm Văn N, Nguyễn Thị H chưa bồi thường.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 104/2024/HS-ST ngày 25 tháng9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 07 (bảy) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự. Buộc các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Thị H có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Phan Văn H2 số tiền 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng và anh Lê Văn T1 số tiền 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng.
- Chị Nguyễn Thị T2 có nghĩa vụ trả lại cho bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Thị H số tiền hoa hồng đã nhận 5.000.000 (năm triệu) đồng.
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
- * Ngày 30/9/2024, bị cáo Phạm Văn N có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
- * Ngày 04/10/2024, bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo N trình bày: thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Bị cáo H trình bày: thừa nhận đồng phạm với bị cáo N. Tuy nhiên, bị cáo chỉ làm theo yêu cầu của bị cáo N, không nhận số tiền nào của bị hại. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã vay mượn được 60.000.000 đồng khắc phục hậu quả cho bị hại, hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo hiện nuôi con nhỏ hơn 03 tuổi và người mẹ mù loà hai mắt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về vụ án:
- Về tố tụng: xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm, phúc thẩm đều được thực hiện đúng với trình tự tố tụng theo luật định, hợp pháp.
- Về nội dung:
+ Đối với bị cáo N, cấp sơ thẩm áp dụng mức án 07 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
+ Đối với bị cáo H là đồng phạm giúp sức, không có hưởng lợi, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nuôi con nhỏ, mẹ già mù loà. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo H; xử phạt bị cáo mức án từ 03-04 năm tù.
* Các bị cáo không tranh luận.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo N, H xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Qua xem xét hồ sơ nhận thấy các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp.
[1.2] Các bị cáo kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung:
tại phiên toà phúc thẩm bị cáo N, H khai nhận, sau khi không có tiền trả nợ cho ông T3 thì giữa các bị cáo và ông T3 đã thoả thuận giao toàn bộ diện tích 52.512,9 m² đất gồm 03 thửa đất số 16, 18, 20, tờ bản đồ số 02, toạ lạc tại ấp G, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh cho vợ chồng ông T3 và thừa nhận toàn bộ cây cao su trên đất là của ông T3 thể hiện tại các (Bút lụt 79, 97, 203, 208). Sau đó, do thiếu nợ nhiều người nên bị cáo N, H bàn bạc với nhau bán toàn bộ cây cao su trên diện tích đất đã chuyển nhượng cho ông T3. Sau đó ngày 21/8/2023, bị cáo N thông qua bà T2 môi giới đã bán số cây cao su này cho ông H2, ông T1 giá 380.000.000 đồng, ông H2, ông T1 đặt cọc 180.000.000 đồng. Khi tiến hành làm giấy đặt cọc bị cáo H còn vờ hỏi bị cáo N “bán cây giá bao nhiêu, bị cáo N nói bán giá 380.000.000 đồng, trả trước 180.000.000 đồng, bị cáo H nói sao có người mua giá 380.000.000 đồng trả một lần sao không bán mà bán cho ông này”. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, số tiền bị cáo chiếm đoạt của ông H2, ông T1 là 380.000.000 đồng, trong đó đã chiếm đoạt hoàn thành số tiền 180.000.000 đồng, riêng số tiền 200.000.000 đồng chưa chiếm đoạt được là do yếu tố khách quan ngoài ý muốn của các bị cáo.
Trong vụ án này, bị cáo N vai trò chủ mưu, bị cáo H vai trò đồng phạm giúp sức làm cho người bị hại tin lời nói dối của bị cáo N là thật. Cấp sơ thẩm kết luận hành vi của các bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” phạm vào điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương nên cần nghiêm trị mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của các bị cáo thấy rằng.
[4.1] Đối với bị cáo N, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cấp sơ thẩm cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, trong tổng số tiền chiếm đoạt có 200.000.000 đồng phạm tội chưa đạt nên cần áp dụng khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.
[4.2] Đối với bị cáo H là đồng phạm giúp sức cho bị cáo N, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cấp sơ thẩm cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, bị cáo không hưởng lợi từ số tiền chiếm đoạt của bị hại, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho bị hại nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội khắc phục hậu quả” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong tổng số tiền 380.000.000 đồng bị chiếm đoạt có 200.000.000 đồng phạm tội chưa đạt nên cần áp dụng khoản 3 Điều 57 và Điều 58, 54 của Bộ luật Hình sự xét xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có căn cứ. Ngoài ra, bị cáo H và bị cáo N là vợ chồng, có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bị cáo H nghề nghiệp bán vé số dạo, hiện đang nuôi con nhỏ là Phạm Minh T4, sinh năm 2020 và là người con duy nhất đang nuôi dưỡng mẹ già bà Phan Thị T 64 tuổi bị mù loà hai mắt, có xác nhận của chính quyền địa phương nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự xem xét cho bị cáo H hưởng án treo là có căn cứ.
[5] Về bồi thường thiệt hại:
cấp sơ thẩm buộc các bị cáo trả lại tiền chiếm đoạt cho bị hại là có căn cứ. Tuy nhiên, số tiền 180.000.000 đồng sau khi chiếm đoạt của bị hại thì bị cáo N đã sử dụng trả cho những người sau đây: ông Thái Văn C 42.000.000 đồng; bà Trần Thị Ngọc G (Bế) 48.000.000 đồng, ông Lê Quang T5 64.000.000 đồng, cho bà Nguyễn Thị T2 tiền môi giới 5.000.000 đồng nhưng cơ quan điều tra ở cấp sơ thẩm không làm việc với bà B1, không đưa ông T5, ông C, bà B1 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không thực hiện các biện pháp để thu lại vật chứng trả cho bị hại là vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần huỷ một phần của bản án này giao về cấp sơ thẩm điều tra và xét xử lại phần trách nhiệm bồi thường.
[6] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo; sửa một phần bản án về hình phạt và huỷ một phần bản án về trách nhiệm bồi thường.
[7] Ý kiến của Viện sát nhân dân tỉnh T tại phiên toà không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.
[8] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 355 điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Thị H.
Sửa một phần Bản án Hình sự sơ thẩm số 104/2024/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 15, 57, 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 05 (năm) năm tù, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51 khoản 2 Điều 51, Điều 15, 54, 57, 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
3.1. Huỷ một phần Bản án Hình sự sơ thẩm số 104/2024/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh về phần bồi thường thiệt hại.
3.2. Giao hồ sơ về cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu tiến hành điều tra làm rõ những người được bị cáo Nguyễn Văn N1 dùng tiền phạm tội để thanh toán nợ và đưa những này tham gia tố tụng trong vụ án, điều tra, xét xử lại phần án bị huỷ.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải chịu.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tâm |
Bản án số 158/2024/HS-PT ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 158/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Pham Văn Ng cùng đồng phạm tội Lừa đảo CĐTS
