|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 158/2024/HNGĐ-ST | |
| Ngày: 30 - 9 - 2024 | |
| V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Đức Quang
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể
Ông Bùi Văn Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 143/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXX - HNGĐ ngày 04/9/2024 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 78/TB-TA ngày 16/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh 1991; Địa chỉ cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. (Hiện đang lao động tại Đài Loan – Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Lê Thị Hồng T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng T và anh Trần Văn C kết hôn vào ngày 13/11/2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống cùng bố mẹ anh C tại thôn A, xã X, huyện N. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc được một thời gian vì kinh tế nên vào năm 2014 anh C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Tuy nhiên, trong thời gian ở nước ngoài anh C thường hay tụ tập bạn bè ăn nhậu và có quen biết người khác. Năm 2016, anh Trần Văn C về nước thì vợ chồng sống với nhau bình thường và năm 2017 thì chị Lê Thị Hồng T và anh Trần Văn C cùng nhau sang Đài Loan để lao động nhưng vợ chồng không ở cùng nhau. Vì khoảng cách địa lý và tính chất công việc nên hai vợ chồng ít khi gặp nhau. Đến năm 2018 thì cả hai người tiếp tục phát sinh nhiều mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống dẫn đến không còn quan tâm và chia sẽ gì với nhau. Mặc dù mâu thuẫn xảy ra đã lâu nhưng vợ chồng không có biện pháp nào để hàn gắn, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Lê Thị Hồng T làm đơn xin được ly hôn với anh Trần Văn C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Khánh L, sinh ngày 11/8/2014 hiện nay cháu đang ở với bố mẹ anh C và được ông bà chăm sóc. Chị T có nguyện vọng giao cháu Trần Khánh L cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng do thời gian tới chị cũng phải đi làm ăn xa nên không thể chăm sóc được con. Trong thời gian anh C chưa về nước thì chị T nhờ bố mẹ đẻ anh C là ông Trần Văn T1 và bà Trần Thị Kim chăm S cháu L.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đối với bị đơn anh Trần Văn C, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng cho anh và được người thân của anh nhận thay. Quá trình xác minh thông tin về anh Trần Văn C thông qua mẹ đẻ của anh là bà Trần Thị K và được bà K cho biết hiện nay anh C đang lao động ở Đài Loan và anh đã biết việc Tòa án thụ lý vụ án ly hôn giữa anh và chị T nhưng anh C chỉ trao đổi lại việc ly hôn là tùy ở chị T, còn anh vì lý do công việc ở nước ngoài nên không thể sắp xết về Việt Nam để tham gia giải quyết việc ly hôn; về con chung anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ngoài ra anh C cũng trao đổi với gia đình là do công việc của anh ở nước ngoài không cố định một nơi nên anh từ chối cung cấp địa chỉ của anh.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự; phân tích nội dung vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 10 Nghị Quyết số 01/2024/ HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, giải quyết:
+ Về tình cảm: Xử cho chị Lê Thị Hồng T và anh Trần Văn C được ly hôn.
+ Về con chung: Giao cháu Trần Khánh L cho anh Trần Văn C được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung của chị Lê Thị Hồng T mỗi tháng 2.000.000đồng (hai triệu đồng) cho đến khi cháu Trần Khánh L đủ 18 tuổi tính từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xem xét.
+ Về án phí: Chị Lê Thị Hồng T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Văn C có hộ khẩu thường trú tại xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh nhưng hiện nay anh đang lao động ở Đài Loan và không cung cấp địa chỉ cụ thể. Tại Công văn số 644/PA08 - Đ1 ngày 10/7/2024 của Phòng Q – Công an tỉnh H xác nhận anh Trần Văn C, sinh ngày 20/6/1991 Số HC B8884701 đã xuất cảnh lần gần nhất là vào ngày 03/02/2020 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Phiên tòa được mở lần thứ hai, anh Trần Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do; chị Lê Thị Hồng T vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị T và anh C theo quy định.
2. Về nội dung:
[2.1] Về tình cảm: Chị Lê Thị Hồng T và anh Trần Văn C kết hôn vào ngày 13/11/2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện. Điều đó phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn của hai người do UBND xã X, huyện N cấp nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của giữa chị Lê Thị Hồng T và anh Trần Văn C là hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị T trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đến nay không còn tiếng nói chung, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn nên mục đích hôn nhân không đạt được. Đối với anh Trần Văn C, mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã lâu và anh biết việc chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng anh không có mặt để làm việc cũng như gửi văn bản trình bày ý kiến của anh về việc ly hôn thể hiện ý thức không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh C và chị T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Hồng T đối với anh Trần Văn C như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
[2.2] Về con chung: Xét thấy, cháu Trần Khánh L là con chung của chị T và anh C lâu nay sống cùng bố mẹ anh C và được ông bà chăm sóc, phát triển bình thường. Chị T có nguyện vọng giao con cho anh Trần Văn C trực tiếp chăm, trong thời gian anh C chưa về nước thì chị T đồng ý nhờ bố mẹ anh C chăm sóc con, vì bản thân chị cũng phải đi làm xa nên không thể chăm sóc tốt cho con. Mặt khác, cháu Trần Khánh L đã trên 7 tuổi và cháu có đơn nguyện vọng được ở với bố. Vì vậy, để không làm ảnh hưởng đến tâm lý cũng như xáo trộn cuộc sống của cháu Trần Khánh L nên cần giao cho anh Trần Văn C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là phù hợp.Đồng thời, ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị Hồng T về đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Trần Khánh L đủ 18 tuổi. Chị Lê Thị Hồng T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
3. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 10 Nghị Quyết số 01/2024/ HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Hồng T, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Hồng T được ly hôn với anh Trần Văn C.
2. Về con chung: Giao con chung Trần Khánh L, sinh ngày 11/8/2014 cho anh Trần Văn C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung của chị Lê Thị Hồng T mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến lúc cháu Trần Khánh L đủ 18 tuổi tính từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Chị Lê Thị Hồng T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Buộc chị Lê Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000018 ngày 15/7/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Chị Lê Thị Hồng T còn phải nộp 300.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hồ Đức Quang |
Bản án số 158/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 158/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Hồng T xin ly hôn Trần Văn C
