Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 158/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14-8-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Vĩnh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Hoàn.
  2. Ông Nguyễn Văn Tư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tiểu Thơ là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Trong ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 327/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Ngọc D, sinh năm 1989,

Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Trần Duy K, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Chị D, anh K có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 06/10/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị D trình bày:

Chị với anh K tự tìm hiểu và được gia đình hai bên đồng ý cho tiến tới hôn nhân, tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào năm 2018.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, nhưng đến khoảng đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau, nên thường hay tranh cãi, bất đồng quan điểm và cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp, hiện tại vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, chị với anh K đã ly thân từ tháng 11 năm 2022 cho đến nay.

Nhận thấy tình trạng hôn nhân hiện nay giữa chị và anh K không thể hàn gắn được nữa, không tìm được tiếng nói chung trong đời sống vợ chồng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Trần Duy K.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Tại đơn xin vắng mặt ngày 15/7/2024, bị đơn anh K trình bày: Anh thống nhất với đơn khởi kiện của chị D và đồng ý ly hôn.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Chị D, anh K có đơn xin vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị D và anh K theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị D với anh K chung sống vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 06/12/2018, nên quan hệ hôn nhân giữa chị D với anh K là hợp pháp. Chị D xác định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn như trên, làm cho quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị D yêu cầu xin ly hôn với anh K. Anh K cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị D, nên theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không phải chứng minh.

Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị D có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống anh K, chị D không có con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị D, anh K đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không giải quyết, nếu sau này có tranh chấp thì khởi kiện bằng vụ án khác.

[6] Nợ chung: Chị D xác định không có nợ chung, anh K thì không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Chị D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Phạm Ngọc D được ly hôn với anh Trần Duy K.
  2. Án phí: Chị Phạm Ngọc D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị D đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002829 ngày 18/6/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Vậy chị D đã thi hành xong án phí.
  3. Chị D, anh K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Cai Lậy;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự H.Cai Lậy;
  • - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Công Vĩnh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 158/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 158/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Phạm Ngọc D được ly hôn với anh Trần Duy K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger