TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 158/2024/DS-ST Ngày 20-6-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc.
Các Hội Thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Ngọc Thanh;
- Bà Đàm Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 150/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q; Địa chỉ trụ sở: Số B L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên lạc: 151 – A N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là: Ông Nguyễn Hùng S, sinh năm 1999. (theo Giấy ủy quyền số 2444 ngày 09/4/2024) (có mặt)
- Bị đơn: Bà Cao Thị Thu H, sinh năm 1978; Địa chỉ: 4 B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Cao Quý T, sinh năm 1950; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1955; (vắng mặt)
- Bà Cao Thị Ngọc H2, sinh năm 1980; (vắng mặt)
- Trẻ Cao Quý T1, sinh năm 2006 có người đại diện theo pháp luật là bà
2
Cao Thị Thu H, sinh năm 1978. (vắng mặt)
- Trẻ Gaudin Arthur Minh H3, sinh năm 2014 có người đại diện theo pháp luật là bà Cao Thị Ngọc H2, sinh năm 1980. (vắng mặt)
- Cùng địa chỉ tại: 4 Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Ông Nguyễn Hùng S là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Q trình bày:
Bà Cao Thị Thu H ký Hợp đồng cho vay số 184/19/HĐCV-9302 ngày 04/06/2019 và Khế ước nhận nợ số 001/KUNN/184/19/HĐCV-9302 ngày 05/06/2019 với Ngân hàng TMCP Q, cụ thể:
Số tiền vay: 5.000.000.000đ (Năm tỷ đồng)
Số tiền giải ngân: 5.000.000.000₫
Thời hạn vay: 288 tháng.
Lãi suất năm đầu: 10.5%/ năm.
Lãi suất kỳ tiếp theo: Lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/ lần theo công thức LSV bằng (=) LSCS (lãi suất cơ sở) + 3,5%/năm. Mức lãi suất cơ sở do Ngân hàng ban hành trong từng thời kỳ.
Kỳ hạn trả lãi vay: 01 tháng, tính từ ngày trả lãi vay đầu tiên.
Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, được áp dụng với cả nợ gốc, nợ lãi chậm trả tại thời điểm chuyển nợ quá hạn (bao gồm cả nợ gốc, lãi trong trường hợp phải trả nợ trước hạn)
Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm
- Tài sản thế chấp:
Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, bà Cao Thị Thu H đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản theo Hợp đồng thế chấp số 184/19/HĐTC-9302 ngày 04/06/2019. Tài sản thế chấp là: Nhà và đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BL 776794, số vào sổ cấp GCN: CH01304 do U, TP . cấp ngày 23/04/2013, cập nhật thay đổi chủ sở hữu/ chủ sử dụng ngày 22/05/2019. Thửa đất số 23, tờ bản đồ số 69, diện tích đất 65,0 m², Nhà có diện tích xây dựng 60,0 m²; diện tích sàn xây dựng 264,7 m² tại địa chỉ: 4 Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị. Theo Hợp đồng thế chấp số 184/19/HĐTC-9302 ngày 04/06/2019 được công chứng tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ, TP. ngày 04/06/2019.
- Quá trình thanh toán nợ:
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Cao Thị Thu H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, mặc dù Ngân hàng TMCP Q nhiều lần đôn đốc nhưng bà Cao Thị Thu H vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng.
Từ thời điểm vay cho đến ngày 20/6/2024 bà Cao Thị Thu H đã đóng cho Ngân hàng tổng số tiền 3.260.107.269đ, trong đó: Nợ gốc: 902,719,963đ; Nợ lãi
3
và Phí phạt: 2.357.387.306đ. Tính đến ngày 20/6/2024 thì bà Cao Thị Thu H còn nợ Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền là 4.740.675.301đ, trong đó:
| Nợ gốc | : | 4.149.360.000₫ |
| Lãi trong hạn | : | 536.473.672₫ |
| Lãi quá hạn | : | 26.161.996₫ |
| Lãi chậm trả lãi | : | 28.679.633₫ |
Nay, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
- Bà Cao Thị Thu H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 20/6/2024 là 4.740.675.301đ (Bốn tỷ, bảy trăm bốn mươi triệu, sáu trăm bảy mươi lăm ngàn, ba trăm lẻ một đồng) và các khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 21/6/2024 theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
- Trường hợp bà Cao Thị Thu H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng TMCP Q được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo là: Nhà và đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BL 776794, số vào sổ cấp GCN: CH01304 do U, Tp . cấp ngày 23/04/2013, cập nhật thay đổi chủ sở hữu/ chủ sử dụng ngày 22/05/2019. Thửa đất số 23, tờ bản đồ số 69, diện tích đất 65,0 m², Nhà có diện tích xây dựng 60,0 m²; diện tích sàn xây dựng 264,7 m² tại địa chỉ: 4 Đường C, Phường A, Quận A, Tp .. Mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị. Trường hợp số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q thì bà Cao Thị Thu H có trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại cho Ngân hàng.
*Bị đơn bà Cao Thị Thu H: Vắng mặt.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Cao Quý T, bà Nguyễn Thị H1, bà Cao Thị Ngọc H2, trẻ Cao Quý T1 có người đại diện theo pháp luật là bà Cao Thị Thu H, trẻ Gaudin Arthur Minh H3 có người đại diện theo pháp luật là bà Cao Thị Ngọc H2: Vắng mặt.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước khi nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Xét, theo Đơn khởi kiện đề ngày 06/4/2023 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Q cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định đây là Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Xét, bị đơn bà Cao Thị Thu H có hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú tại số D Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về tư cách của đương sự:
Theo Kết quả xác minh đề ngày 17/5/2023 của Công an P, Quận A thì căn nhà số D Đường C, Phường A, Quận A có 06 nhân khẩu đăng ký thường trú và thực tế cư trú gồm bà Cao Thị Thu H, trẻ Cao Quý T1 có người đại diện theo pháp luật là bà Cao Thị Thu H, bà Nguyễn Thị H1, ông Cao Quý T, bà Cao Thị Ngọc H2 và trẻ Gaudin Arthur Minh H3 có người đại diện theo pháp luật là bà Cao Thị Ngọc H2. Xét, việc Ngân hàng có yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là nhà và đất tại địa chỉ số D Đường C, Phường A, Quận A trong trường hợp bà Cao Thị Thu H không trả hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thực tế cư trú tại nhà đất nêu trên, nên theo khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc đưa những người có tên nêu trên vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cần thiết.
[1.3] Về sự vắng mặt của các đương sự:
- Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự để nộp bản tự khai, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hòa giải nhưng bà Cao Thị Thu H, ông Cao Quý T, bà Nguyễn Thị H1 và bà Cao Thị Ngọc H2 đều vắng mặt.
- Tại phiên tòa, bà Cao Thị Thu H, ông Cao Quý T, bà Nguyễn Thị H1 và bà Cao Thị Ngọc H2 tiếp tục vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên nêu trên.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về yêu cầu trả nợ gốc và nợ lãi của Hợp đồng cho vay số 184 ngày 04/6/2019:
5
[2.1.1] Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định vào ngày 04/6/2019 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (gọi tắt là Ngân hàng) với bà Cao Thị Thu H có ký với nhau Hợp đồng cho vay số 184 theo đó Ngân hàng đồng ý cho bà H vay 5.000.000.000đ, thời hạn vay là 288 tháng để hoàn tiền mua bất động sản tại thửa đất số 23, tờ bản đồ số 69 tại địa chỉ 4 Đường C, Phường A, Quận A. Đến ngày 05/6/2019 Ngân hàng đã giải ngân số tiền 5.000.000.000đ cho bà H bằng hình thức chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản cá nhân của bà H, lãi suất cho vay trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân là 10,5%/năm. Lãi suất tiếp theo sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức lãi suất cho vay mà lãi suất cơ sở cộng biên độ 3,5%/năm. Xét, Hợp đồng cho vay số 184/19/HĐCV-9302 ngày 04/6/2019 có hình thức và nội dung phù hợp theo quy định tại Điều 117, 118 và 119 Bộ luật Dân sự nên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
[2.1.2] Quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày giải ngân số tiền 5.000.000.000₫ cho đến nay thì bị đơn chỉ trả được cho nguyên đơn 3.260.107.269đ, trong đó: Nợ gốc: 902,719,963đ; Nợ lãi và Phí phạt: 2.357.387.306đ. Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì bị đơn có nghĩa vụ trả tiền gốc và tiền lãi cho Ngân hàng vào ngày 25 hàng tháng, tuy nhiên bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ trả tiền gốc từ ngày 25/7/2023 và tiền lãi từ ngày 26/6/2023 cho Ngân hàng M đã được Ngân hàng Đ1 nhưng cho đến nay bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận trong hợp đồng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Điều 3 của Hợp đồng số 184 ngày 04/6/2019 nên yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bị đơn trả nợ gốc, nợ lãi quá hạn, nợ lãi trong hạn và lãi chậm trả là phù hợp theo thỏa thuận tại khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 10 của Hợp đồng số 184 ngày 04/6/2019, phù hợp theo quy định tại Điều 95 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010.
[2.1.3] Theo khoản 1 Điều 2, khoản 3 và 4 Điều 10 của Hợp đồng số 184 ngày 04/6/2019 thì “...LSV trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân là: 10.5%/năm. Lãi suất kỳ tiếp theo: Lãi suất áp dụng đối với các khoản vay của Khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức LSV bằng (=) Lãi suất cơ sở + biên bộ 3.5%/năm...”; “...Nếu Bên B bị chuyển nợ quá hạn thì phải trả cho Bên A L quá hạn với lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn...”; “...Nếu Bên B chậm trả lãi thì Bên B phải trả cho Bên A L chậm trả lãi với lãi suất chậm trả lãi bằng 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả...”. Xét, mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng gồm lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và lãi suất do chậm trả tiền lãi là phù hợp theo quy định tại Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010, điểm b và điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Như vậy, tính đến ngày 20/6/2024 bị đơn còn nợ nguyên đơn 4.740.675.301₫ (Bốn tỷ, bảy trăm bốn mươi triệu, sáu trăm bảy mươi lăm ngàn, ba trăm lẻ một đồng), trong đó:
- + Nợ gốc là 4.149.360.000₫
- + Nợ lãi trong hạn là 536.473.672₫
- + Tiền lãi do chậm trả lãi trong hạn là 28.679.633₫
- + Nợ lãi quá hạn là 26.161.996₫
6
[2.2] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ:
Để đảm bảo cho khoản vay 5.000.000.000₫ phát sinh từ Hợp đồng cho vay số 184 ngày 04/6/2019 được ký giữa Ngân hàng với bà H thì giữa bà H với Ngân hàng có ký với nhau Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 184, theo đó bà H đồng ý thế chấp nhà ở và đất ở tại địa chỉ 4 Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cho Ngân hàng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ. Xét, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 184/19/HĐTC-9302 ngày 04/6/2024 đã được công chứng tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đ vào ngày 05/6/2019 nên theo quy định tại Điều 117, 118, 119, 318, 319 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014; Điều 95 Luật Đất đai năm 2013; Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 thì Hợp đồng nêu trên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
Theo khoản 1 và khoản 5 Điều 4 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 184 ngày 04/6/2019 thì:
“Trường hợp xử lý Tài sản bảo đảm để thu hồi nợ:
a) Khi đến hạn trả nợ (kể cả trường hợp phải trả nợ trước hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng cấp tín dụng) mà Bên B không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán Các khoản phải trả của mình đối với Bên A theo quy định trong Hợp đồng cấp tín dụng;
b) Bên B vi phạm các cam kết trong Hợp đồng cấp tín dụng và/hoặc Hợp đồng này mà không khắc phục trong thời hạn do Bên A yêu cầu thì Tài sản bảo đảm sẽ được xử lý để thu hồi Các khoản phải trả;”
“...Số tiền thu được từ việc bán, chuyển nhượng Tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nợ theo thứ tự ưu tiên như sau, nếu không đủ để trả nợ, thì Bên B phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Bên A...”
Như vậy, việc bà H vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc từ ngày 25/7/2023 và tiền lãi từ ngày 26/6/2023 cho Ngân hàng đã làm phát sinh quyền của bên nhận bảo đảm tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 184 ngày 04/6/2019 nên yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ và buộc bà H có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại đối với trường hợp tài sản thế chấp không đủ để trả nợ cho Ngân hàng là có cơ sở, phù hợp nội dung thỏa thuận tại hợp đồng và phù hợp theo quy định tại Điều 299, 320, 323 Bộ luật Dân sự.
[2.3] Căn cứ Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 thì “...Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật...”; “Mức lãi suất hai bên thỏa thuận hướng dẫn tại khoản 1 điều này là mức lãi suất nợ quá hạn
7
các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc tại Tòa án. Trường hợp, các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn” nên yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 21/6/2024 cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 184/19/HĐCV-9302 ngày 04/6/2019 là có cơ sở nên được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng khác: Căn cứ Điều 157 và 158 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 68, Điều 147, Điều 157, 158, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 117, 118, 119, 339, 342 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Điều 91, 95 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014; Điều 95 Luật Đất đai năm 2013;
- Căn cứ Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm;
- Căn cứ Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
- Căn cứ Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2008.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
8
- Buộc bà Cao Thị Thu H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 20/6/2024 là 4.740.675.301đ (Bốn tỷ, bảy trăm bốn mươi triệu, sáu trăm bảy mươi lăm ngàn, ba trăm lẻ một đồng), trong đó: Nợ gốc là 4.149.360.000đ, Nợ lãi trong hạn là 536.473.672đ, T2 lãi do chậm trả lãi trong hạn là 28.679.633đ, Nợ lãi quá hạn là 26.161.996₫
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Cao Thị Thu H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 21/6/2024 cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 184/19/HĐCV-9302 ngày 04/6/2019
- Trường hợp bà Cao Thị Thu H không trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là nhà và đất tại địa chỉ 4 Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BL 776794, số vào sổ cấp GCN: CH01304 do Ủy ban nhân dân Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/04/2013, cập nhật thay đổi chủ sở hữu/ chủ sử dụng ngày 22/05/2019.
- Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q thì bà Cao Thị Thu H có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Cao Thị Thu H phải chịu số tiền là 112.740.675₫ (Một trăm mười hai triệu, bảy trăm bốn mươi ngàn, sáu trăm bảy mươi lăm đồng). H4 lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q 56.308.545đ (Năm mươi sáu triệu, ba trăm lẻ tám ngàn, năm trăm bốn mươi lăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001407 ngày 19/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10.
3. Về chi phí tố tụng khác: Bà Cao Thị Thu H có nghĩa vụ hoàn trả 10.000.000đ (Mười triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
4. Về quyền kháng cáo: Đối với đương sự có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
9
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bảo Ngọc |
Bản án số 158/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 158/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q
