Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1573/2024/DS-ST

Ngày: 12-8-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Chu Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nhơn 2. Bà Phạm Thị Ngọc Thu

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Trân - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên toà:

Bà Hà Thị Thúy Lan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai và tuyên án đối với vụ án Dân sự thụ lý số 2457/2023/TLST-DS ngày 22/12/2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 444/2024/QĐXXST-DS ngày 10/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 347/2024/QĐST-DS ngày 26/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H

Trụ sở: B N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Lăng T (Giấy ủy quyền số 71/2022/UQ-HDB ngày 07/10/2022) (có mặt)

Bị đơn : Bà Đặng Thị Kim O, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Ông Tạ Quang L, sinh năm 1975 (vắng mặt)

HKTT: B H, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/10/2022, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ký kết hợp đồng: Ngày 12/4/2021, vợ chồng bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L với Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H có ký kết Hợp đồng tín dụng số 14450/21MN/HĐTD. Nội dung của Hợp đồng, ngân hàng đồng ý cho bà O và ông L vay số tiền gốc 700.000.000đồng; Mục đích vay mua bất động sản; thời hạn vay 348 tháng; lãi suất vay trong hạn 8%/năm cố định trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày giải ngân, sau đó được điều chỉnh 03 tháng một lần theo công thức lãi suất tiền gửi tiết kiệm thông thường thời hạn 13 tháng tại thời điểm tính lãi + biên độ 4%/năm; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, lãi chậm trả lãi 10%/năm; lịch trả nợ gốc và lãi vào ngày 05 hàng tháng. Ngày 12/4/2021, Ngân hàng đã giải ngân cho bà O và ông L vay số tiền gốc 700.000.000đồng (Bảy trăm triệu đồng) theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 14450/21MN/HĐTD/KUNN01.

Tài sản bảo đảm: Để đảm bảo cho khoản vay trên, bà O và ông L đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 1228, tờ bản đồ số 22, diện tích 103m², tọa tại ấp X, xã L, huyện C, tỉnh Long An, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ cấp GCN: CS 10808 ngày 19/11/2018, cập nhật chuyển nhượng ngày 19/4/2021 cho bà Đặng Thị Kim O, thuộc quyền ở hữu của bà bà O và ông L. Hai bên đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12320/21MN/HĐBĐ ngày 28/4/2021. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 28/4/2021 theo đúng quy định của pháp luật.

Thực hiện hợp đồng: Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà O và ông L đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền tổng cộng 252.351.338đồng, trong đó bao gồm 64.384.000đồng tiền nợ gốc, 183.756.522đồng tiền lãi và 4.210.816đồng tiền lãi phạt do chậm thanh toán. Do bà O và ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và trong Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, nên ngân hàng đã chuyển từng phần dư nợ tới kỳ thanh toán mà chưa thanh toán của bà O và ông L sang nợ quá hạn.

Yêu cầu đòi nợ: Nay nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc phía bị đơn phải thanh toán số tiền nợ tổng cộng là 709.697.398đồng (Bảy trăm lẻ chín triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn ba trăm chín mươi tám đồng), trong đó bao gồm 635.616.000đồng tiền nợ gốc, 71.636.203đồng tiền lãi trong hạn và 2.445.195đồng tiền lãi quá hạn, các khoản tiền lãi tính đến ngày 12/8/2024.

Tại phiên toà hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc phía bị đơn thanh toán toàn bộ tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân kiêm

khế ước nhận nợ nêu trên cho Ngân hàng tổng cộng 709.697.398đồng (Bảy trăm lẻ chín triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn ba trăm chín mươi tám đồng) tiền lãi tính đến ngày 12/8/2024.

Buộc bà O và ông L phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng từ ngày 13/8/2024 trên số dư nợ vốn cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ vay, theo mức lãi suất được quy định cụ thể trong Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ.

Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán dứt điểm một lần toàn bộ số nợ gốc và lãi nêu trên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bà O và ông L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ nêu trên, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 1228, tờ bản đồ số 22, diện tích 103m², tọa tại ấp X, xã L, huyện C, tỉnh Long An, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ cấp GCN: CS 10808 ngày 19/11/2018, cập nhật chuyển nhượng ngày 19/4/2021 cho bà Đặng Thị Kim O, thuộc quyền ở hữu của bà bà O và ông L để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Số tiền phát mãi thửa đất nêu trên nếu không đủ để thanh toán toàn bộ số nợ vay, buộc bà O và ông L phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ số nợ vay.

Bị đơn - bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L: Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thụ thập chứng cứ và thực hiện đầy đủ các thủ tục tống đạt, đăng báo theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự đối với bị đơn. Cụ thể: tống đạt, đăng báo Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 01/7/2024; lúc 08 giờ 00 phút ngày 10/7/2024 cho bà O và ông L nhưng bà O và ông L vẫn không có mặt tham gia tố tụng, đồng thời bà O và ông L cũng không có bất kỳ ý kiến gì bằng văn bản phản hồi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do bà O và ông L vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn – bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L vắng mặt không có lý do.

Phần tranh luận: Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng không có ý kiến phát biểu tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến

trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Thẩm phán chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát, Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo đúng quy định tại Điều 209, Điều 210 và Điều 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử gồm những thành viên như đã công bố trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định.

Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ Luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với người đại diện: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay người đại diện đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 299, Điều 317, khoản 1 Điều 319, khoản 7 Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn – bà Đặng thị Kim O1 và ông Tạ Quang L phải thanh toán số tiền nợ gốc là 635.616.000đồng và tiền lãi theo mức lãi suất mà hai bên đã thống nhất

thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và trong khế ước nhận nợ cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ vay.

Trường hợp bà Đặng thị Kim O1 và ông Tạ Quang L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 1228, tờ bản đồ số 22, diện tích 103m², tọa tại ấp X, xã L, huyện C, tỉnh Long An để thu hồi nợ.

Về án phí, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải đóng toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn còn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản bảo đảm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H với bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn – bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L khai địa chỉ cư trú vào thời điểm ký hợp đồng với nguyên đơn tại số A đường B, Khu phố G, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 07/12/2022, Công an phường H, thành phố T trả lời xác minh cho biết bà O và ông L đã chuyển hộ khẩu thương trú về địa chỉ B H, Phường E, quận B từ tháng 09/2022. Theo kết quả xác minh ngày 20/12/2022 của Công an P, quận B, Thành phố Hồ Chí MinhĐăng Thị Kim O2, sinh năm 1979 và ông Tạ Quang L, sinh năm 1975 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số B H, Phường E, quận B từ tháng 07/2022 đến nay. Hiện nay bà O2 và ông L đã xuất cảnh định cư ở nước ngoài không còn cư trú tại địa phương. Theo nội dung công văn số 5274/PA08-Đ1 ngày 02/7/2024 của Phòng PA08 - Công an Thành phố H phúc đáp Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 2043/2024/QĐ-CCTLCC ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã xác định bà Đặng Thị Kim O, sinh ngày 30/10/1979 có số hộ chiếu C6015988, đã dùng hộ chiếu này xuất nhập cảnh nhiều lần, lần nhập cảnh gần nhất vào ngày 29/7/2023 và xuất cảnh gần nhất vào ngày 30/8/2023 tại cửa khẩu Quốc tế T1 trên chuyến bay VN98, đến nay vẫn chưa có thông tin nhập cảnh; ông Tạ Quang L, sinh ngày 09/12/1975 có số hộ chiếu C7659121, đã dùng hộ chiếu này xuất nhập cảnh nhiều lần, lần nhập cảnh gần nhất là ngày 08/01/2024 và ngày xuất cảnh gần nhất là ngày 22/02/2024 tại cửa khẩu Quốc tế T1, đến nay vẫn chưa có thông tin nhập cảnh.

Theo quy định của pháp luật, mọi công dân Việt Nam khi xuất cảnh không phải khai mục đích và quốc gia họ sẽ đến khi xuất cảnh khỏi Việt Nam nên Cơ quan công an không xác định được mục đích và quốc gia mà đương sự sẽ đến sau khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Đồng thời phía nguyên đơn cũng không cung cấp được địa chỉ cư trú cụ thể của bà O và ông L ở nước ngoài, nên xác định địa chỉ B H, Phường E, quận B mà bà O và ông L cư trú trước khi xuất cảnh là nơi cư cứ cuối cùng. Căn cứ Khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tiến hành đăng báo, tống đạt hợp lệ để triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần 1 vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 26/7/2024 và lần 2 lúc 08 giờ 00 phút ngày 12/8/2024, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định.

[3]. Về yêu cầu của nguyên đơn :

Nguyên đơn yêu cầu bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L thanh toán số tiền nợ gốc phát sinh hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết là 635.616.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 14450/21MN/HĐTD ngày 12/4/2021; Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 14450/21MN/HĐTD/KUNN01 ngày 12/4/2021; các Bảng kê tính lãi chi tiết hợp đồng vay; Phiếu chiết tính thu nợ vay ngày 12/8/2024 cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L đã vay của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H khoản tiền vốn là 700.000.000 đồng và đã nhận tiền giải ngân vào ngày 12/4/2021, mục đích vay mua bất động sản, thời hạn vay 348 tháng. Sau khi nhận tiền giải ngân đến nay, bà O và ông L đã thanh toán cho nguyên đơn 64.384.000đồng tiền nợ gốc.

Theo quy định tại Điều 4 của Hợp đồng tín dụng số 14450/21MN/HĐTD ngày 12/4/2021 và tại điểm e Điều 1 của Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 14450/21MN/HĐTD/KUNN01 ngày 12/4/2021 mà hai bên đã ký kết, thì bà O và ông L có nghĩa vụ trả tiền nợ gốc định kỳ vào ngày 05 hàng tháng, ngày trả nợ đầu tiên là ngày 05/05/2021. Bà O và ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc theo đúng nội dung mà hai bên đã thỏa thuận, mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở và tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ, nhưng bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do vậy, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu phía bị đơn phải thanh toán ngay khoản tiền nợ gốc là hoàn toàn phù hợp với những thỏa thuận mà hai bên đã thống nhất trong hợp đồng tín dụng và trong

Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, đồng thời cũng phù hợp với quy định tại các Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn – bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L phải thanh toán số tiền lãi trong hạn 71.636.203đồng và lãi quá hạn 2.445.195đồng tạm tính đến ngày 12/8/2024, Hội đồng xét xử nhận định:

Từ khi nhận tiền giải ngân đến nay, bà O và ông L đã thanh toán cho Ngân hàng 183.756.522đồng tiền lãi và 4.210.816đồng tiền lãi phạt, từ tháng 01/2022 bà O và ông L luôn thanh toán không đúng hạn và đến tháng 9/2022 ngưng không thanh toán. Sau khi Ngân hàng nộp đơn khởi kiện, thỉnh thoảng bà O và ông L có chuyển khoản thanh toán, từ tháng 10/2023 đến nay thì ngưng không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào khác cho Ngân hàng. Mặc dù các bên đã thống nhất thỏa thuận với nhau về mức lãi suất trong hạn, mức lãi suất quá hạn và các kỳ hạn trả lãi trong Hợp đồng tín dụng và trong Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, nhưng bà O và ông L không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết. Xem xét thời gian tính lãi, mức lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn mà ngân hàng áp dụng, được thể hiện chi tiết trong bảng tính lãi hợp đồng vay là hoàn toàn phù hợp với nội dung mà các bên đã thống nhất thỏa thuận tại Điều 2, Điều 2, Điều 5 của Hợp đồng tín dụng số 14450/21MN/HĐTD ngày 12/4/2021; điểm d Điều 1 Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 14450/21MN/HĐTD/KUNN01 ngày 12/4/2021. Đồng thời cũng phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 và Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng N được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN03-2-2005. Như vậy, việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc phía bị đơn – bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L phải thanh toán các khoản tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày 12/8/2024 phát sinh từ Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ nêu trên tổng cộng là 74.081.398đồng, trong đó bao gồm 71.636.203đồng tiền lãi trong hạn và 2.445.195đồng tiền lãi quá hạn là có cơ sở để chấp nhận.

Người đại diện của Nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để đảm bảo việc thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H, trong trường hợp bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L không thanh toán nợ hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại Điều 3 của Hợp đồng tín dụng số 14450/21MN/HĐTD ngày 12/4/2021 có quy định về tài sản bảo đảm, biện pháp bảo đảm đối với số tiền vay 700.000.000đồng là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 1228, tờ bản đồ số 22, diện tích 103m², tọa lạc tại ấp X,

xã L, huyện C, tỉnh Long An, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ cấp GCN: CS 10808 ngày 19/11/2018, cập nhật chuyển nhượng ngày 19/4/2021 cho bà Đặng Thị Kim O, thuộc quyền ở hữu của bà O và ông L, tài sản bảo đảm đã thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật (Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số thứ tự 155, quyển 01 ngày 28/4/2021).

Đồng thời cũng Điều 2, Điều 4 và Điều 8 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12320/21MN/HĐBĐ ngày 28/4/2024 mà các bên đương sự đã ký kết, có quy định về tài sản bảo đảm và nghĩa vụ được bảo đảm gồm các nghĩa vụ của bên thế chấp với ngân hàng P1 trước, đồng thời, sau thời điểm thời điểm ký Hợp đồng thế chấp (bao gồm mọi nghĩa vụ thanh toán, trả nợ của bên thế chấp đối với Ngân hàng gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí, phạt, các khoản phải trả, bồi thường thiệt hại theo Hợp đồng tín dụng số 14450/21MN/HĐTD ngày 12/4/2021 và các phụ lục kèm theo được ký kết nếu có). Như vậy, các khoản nợ gốc, nợ lãi và lãi phạt phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 14450/21MN/HĐTD ngày 12/4/2021 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 14450/21MN/HĐTD/KUNN01 ngày 12/4/2021 nằm trong nghĩa vụ được bảo đảm của tài sản bảo đảm là thửa đất số 1228, tờ bản đồ số 22, diện tích 103m², tọa tại ấp X, xã L, huyện C, tỉnh Long An, mà bà O và ông L đã thế chấp cho nguyên đơn.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12320/21MN/HĐBĐ ngày 28/4/2024 và Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số thứ tự 155, quyển 01 ngày 28/4/2021 của các bên đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định tại các Điều 295, Điều 298, Điều 317 và Điều 318 của Bộ luật dân sự năm 2015 và phù hợp với các quy định tại Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy định về giao dịch bảo đảm; Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm.

Do vậy, việc nguyên đơn yêu cầu được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 1228, tờ bản đồ số 22, diện tích 103m², tọa tại ấp X, xã L, huyện C, tỉnh Long An, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ cấp GCN: CS 10808 ngày 19/11/2018, cập nhật chuyển nhượng ngày 19/4/2021 cho bà Đặng Thị Kim O, thuộc quyền ở hữu của bà O và ông L để thu hồi nợ cho ngân hàng trong trường hợp bà O và ông L không thanh toán nợ hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ nêu trên là đúng với quy định tại Điều 299, Điều 320 và Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên chấp nhận.

Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán cho các khoản nợ vay (bao gồm tiền nợ vốn và các khoản tiền lãi, phí), nguyên đơn yêu cầu bà O và ông

L phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ số nợ vay cho Ngân hàng là đúng với quy định tại Điều 307 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong khi đó, bị đơn- bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Toà án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên toà hôm nay, mặc dù toà án đã tiến hành các thủ tục đăng báo, tống đạt hợp lệ cho bà O và ông L. Như vậy, bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại toà để bảo vệ quyền lợi cho mình nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của bị đơn.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy các yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H đối với bị đơn – bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận toàn bộ như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh.

Số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) mà Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H đã nộp cho Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 1079/2024/TB-TA ngày 07/5/2024 và Biên nhận ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, để Tòa án tiến hành việc xem xét, thẩm định đối với tài sản thế chấp là thửa đất số 1228, tờ bản đồ số 22, diện tích 103m², tọa tại ấp X, xã L, huyện C, tỉnh Long An vào ngày 22/5/2024. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc phía bị đơn có trách nhiệm phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền chi phí tố tụng 10.000.000đồng, Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu này của nguyên đơn đúng với nội dung mà các bên đương sự đã thống nhất thỏa thuận tại Điều 8 của Hợp đồng tín dụng số 14450/21MN/HĐTD ngày 12/4/2021 “Bên vay có trách nhiệm thanh toán tất cả các khoản phí, chi phí như lệ phí công chứng, phí đăng ký giao dịch bảo đảm, phí thẩm định, phí dịch thuật...” và cũng hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên chấp nhận.

[4].Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 307, Điều 317, Điều 318, Điều 320, Điều 322, Điều 323, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;

Áp dụng Luật án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H:

- Buộc bị đơn – bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 14450/21MN/HĐTD ngày 12/4/2021 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 14450/21MN/HĐTD/KUNN01 ngày 12/4/2021 tổng cộng 709.697.398đồng (Bảy trăm lẻ chín triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn ba trăm chín mươi tám đồng), trong đó bao gồm 635.616.000đồng tiền nợ gốc, 71.636.203đồng tiền lãi trong hạn và 2.445.195đồng tiền lãi quá hạn, các khoản tiền lãi, phí tính đến ngày 12/8/2024.

Phương thức thanh toán và thời hạn thanh toán: Thanh toán dứt điểm một lần toàn bộ số tiền 709.697.398đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 13/8/2024, bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ gốc. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng số 14450/21MN/HĐTD ngày 12/4/2021 và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 14450/21MN/HĐTD/KUNN01 ngày 12/4/2021 mà các bên đã ký kết có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Sau khi bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và

Môi trường tỉnh L cấp ngày 19/11/2018, có số vào sổ cấp GCN: CS 10808, đã được cập nhật thay đổi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà O vào ngày 19/4/2021.

Trường hợp bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ nêu trên, thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 1228, tờ bản đồ số 22, diện tích 103m², tọa tại ấp X, xã L, huyện C, tỉnh Long An, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số vào sổ cấp GCN: CS 10808 ngày 19/11/2018, đã được cập nhật chuyển nhượng ngày 19/4/2021 cho bà Đặng Thị Kim O, thuộc quyền ở hữu của bà O và ông L để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Số tiền phát mãi thửa đất nêu trên nếu không đủ để thanh toán cho các khoản nợ vay (bao gồm tiền nợ vốn và các khoản tiền lãi, phí), buộc bà O và ông L phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H cho đến khi trả hết toàn bộ số nợ vay.

Buộc bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L có nghĩa vụ phải hoàn trả toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H số tiền là 10.000.000đồng (Mười triệu đồng).

Việc thi hành án được thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 32.387.896đồng (Ba mươi hai triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi sáu đồng) bị đơn - bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L có nghĩa vụ nộp toàn bộ.

H số tiền tạm ứng án phí 16.010.282đồng (Mười sáu triệu không trăm mười nghìn hai trăm tám mươi hai đồng) cho Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H, theo biên lai thu số 0006531 ngày 27/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày truyên án. Bà Đặng Thị Kim O và ông Tạ Quang L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

-TAND TP. HCM;

-VKSND Q. Bình Thạnh;

-THADS Q. Bình Thạnh;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1573/2024/DS-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1573/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger