|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 157/2023/HS-ST
Ngày: 27 - 12 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Hà Thị Lan
Bà: Đặng Thị Sinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Hồng Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 149/2023/TLST-HS, ngày 04/12/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2023/QĐXXST-HS ngày 15/12/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: ĐẶNG VĂN Đ, sinh năm 1970 tại tỉnh Thái Bình; tên gọi khác: không. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/10; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân H (Đã chết) và bà Trần Thị T. Có vợ Ninh Thị H1 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2010. Gia đình bị cáo có 07 anh em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/10/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
Anh Đặng Xuân L, sinh năm 1973.
Trú tại: Xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Xuân T1, sinh năm 1964. Trú tại: Xóm I, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Bà Vũ Thị M, sinh năm 1971. Trú tại: Xóm I, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Anh Vũ Văn T2, sinh năm 1990. Trú tại: Xóm M, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa).
- Anh Ninh Viết L1, sinh năm 1983. Trú tại: Xóm T, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng:
- Anh Vũ Đại L2, sinh năm 1976. Trú tại: Xóm I, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1976. Trú tại: Xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/7/2023, ĐẶNG VĂN Đ một mình đến nhà ông Đặng Xuân T1 có gặp anh Đặng Xuân L (là em trai của Đ1) đang ngồi uống nước với ông T1 tại bàn gỗ kê trong bếp nhà ông T1. Đam đến bàn uống nước ngồi cùng và nói với ông T1 về việc đóng tiền phí sửa đường bê tông. Sau đó, ông T1 đi lên nhà chính để lấy sổ ghi chép còn anh L và Đ1 vẫn ngồi lại tại bàn uống nước. Quá trình nói chuyện, anh L và Đ1 xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Anh L dùng tay phải cầm một chiếc chén bằng sứ để trên bàn uống nước giơ lên về phía Đam, Đ1 đứng đối diện anh L dùng hai tay cầm vào tay L làm chiếc chén rơi xuống sân. Anh L và Đ1 cùng lao vào dùng tay, chân đánh nhau, vật lộn nhau ngã ra sân (sân cách bàn uống nước khoảng 02m). Tại đây, Đ1 lấy được một chiếc chổi lau nhà gần đó (cán chổi bằng gỗ, hình trụ, đường kính 02cm, phần vải lau bằng vải màn, màu xanh) vụt vào người anh L thì cán chổi bị gãy. Đam và L tiếp tục giằng co nhau chiếc chổi thì Đ1 dùng hai tay cầm cán chổi đẩy vào ngực L làm L ngã ra góc sân cạnh bếp nhà ông T1. Đam dùng cán chổi đè vào ngực, cổ anh L. Hai bên giằng co cán chổi thì Đ1 thấy bên cạnh vị trí Đ1 và anh L đang giằng có một chiếc cào (cán bằng gỗ, hình trụ dài 1,9m, đường kính 02cm, bàn cào có 05 răng cào bằng kim loại đường kính 0,6cm, dài khoảng 10cm) Đ1 dùng tay trái cầm thân chiếc cào kéo về phía L làm một chiếc răng của chiếc cào móc vào đầu L. Sau đó, Đ1 dùng thân của chiếc cào đè vào cổ, ngực của anh L. Lúc này, bà Vũ Thị M ( là vợ ông T1) vào can ngăn kéo Đam ra. L và Đ1 cùng đứng dậy chạy đến góc sân phía trong bên trái (theo hướng đi từ cổng vào) sát cạnh tường bếp nhà ông T1 (vị trí này có nhiều thanh kim loại đường kính 0,6cm và 0,8cm ông T1 dùng để đổ cột bê tông). Tại đây, Đ1 cầm được một thanh kim loại dài khoảng 02m còn L cầm được một chiếc xà beng bằng kim loại, sau đó L đuổi đánh Đ1 chạy vào cửa bếp rồi L chọc một đầu xà beng về phía Đ1 thì Đ1 dùng hai tay nắm được xà beng và giằng co với anh L. Quá trình giằng co Đ1 bị ngã ra sân còn L đè lên người Đam và dùng tay phải đấm liên tiếp nhiều nhát trúng mặt của Đ1. Sau đó, Đ1 vật được L ngã ngửa ra sân rồi cầm chân trái của anh L kéo trượt trên mặt sân. Trong lúc bị Đ1 kéo chân, anh L cầm được thanh kim loại (hình trụ dài 1,1m, đường kính 0,8cm) tấn công Đam thì Đ1 dùng tay đỡ và giằng lấy được thanh kim loại, Đ1 dùng thanh kim loại này đè vào cổ của L. Thấy vậy, L giằng co đẩy thanh kim loại ra khỏi cổ mình thì một đầu thanh kim loại cào vào vị trí mặt trong bắp tay phải của Đ1 gây ra vết thương xước da, chảy máu còn Đ1 cắn vào cẳng tay trái của anh L. Bị thương, Đ1 bỏ L ra và chạy khỏi nhà ông T1 thì sự việc đánh nhau kết thúc.
Hậu quả: - ĐẶNG VĂN Đ bị 01 vết thương sưng nề bầm tím phần đuôi mắt trái, không rách da chảy máu kích thước (2x3)cm; 01 vết thương sưng nề bầm tím phần trán bên phải không rách da chảy máu (2x3)cm; 02 vết trầy xước ở dưới mắt trái kích thước lần lượt là (0,5x1,5)cm và (0,7x01)cm; 04 vết trầy xước ở phần khuỷu tay và bắp tay phải kích thước lần lượt là (0,2x10)cm, (0,2x12)cm, (0,2x5)cm và (0,2x7)cm.
- Anh Đặng Xuân L bị 01 vết xây xát da chảy máu vùng đỉnh đầu kích thước (0,5x0,5)cm; mắt trái sưng nề, bầm tím; 01 vết xây xát da vùng hạ sườn trái; 01 vết lóc da, chảy máu tại mặt trong cẳng tay trái kích thước (4x5)cm; 01 vết xây xát gối phải kích thước (2x3)cm; gãy mỏm nha đốt sống C2. Sau đó anh L được gia đình đưa đến Bệnh viện T3 điều trị, còn Đ1 được gia đình đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện Đ thăm khám.
Tại Bệnh án của Bệnh viện T3 điều trị đối với anh Đặng Văn L3 xác định: anh Đặng Văn L3 đến khám lúc 23 giờ 31 phút, ngày 25/7/2023, quá trình bệnh lý: bệnh nhân bị đánh vào đầu và nhiều vị trí trên cơ thể, cắn vào tay, cho vào điều trị tại khoa Ngoại thần kinh: Đau đầu, buồn nôn, Tê bì chân tay lan đến ngọn chi. Đau nhiều khớp gối phải. Vết thương vùng đỉnh kích thước 0,5 x 0,5cm. Mắt trái sưng nề bầm tím, xây xát hạ sườn trái. Vết thương lóc da, mất da mặt trong cẳng tay trái kích thước 4 x 5cm. Xây xát gối phải kích thước 2x3cm. Điều trị tới ngày 07/8/2023 ra viện. Ngày 18/8/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 247 và 248 trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh T giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành vết thương của ĐẶNG VĂN Đ và anh Đặng Xuân L.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 714/KLTTCT-TTPY ngày 23/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T đối với anh Đặng Xuân L kết luận: Các kết quả chính: Gãy mỏm nha đốt sống C2 tỷ lệ 31%, cơ chế hình thành thương tích do tác động của vật tày; Sẹo vùng đỉnh tỷ lệ 01%, cơ chế hình thành thương tích do tác động của vật cứng có góc cạnh; Sẹo mặt trong cẳng tay trái tỷ lệ 2%, cơ chế hình thành thương tích do tác động của vật cứng có góc cạnh và vật tày; Sẹo đầu gối phải tỷ lệ 2%, cơ chế hình thành thương tích do tác động của vật tày. Cộng: 31%+1%+2% +2% = 34,39% (Làm tròn số 34%). Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Xuân L tại thời điểm giám định là 34%.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 713/KLTTCT-TTPY ngày 22/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T đối với ĐẶNG VĂN Đ kết luận: Các kết quả chính: Sẹo vùng gò má trái tỷ lệ 3%, cơ chế hình thành thương tích do tác động của vật tày; Sẹo 1/3 dưới mặt trong cánh tay phải vết 1 tỷ lệ 2%, cơ chế hình thành thương tích do tác động của vật cứng có góc cạnh; Sẹo 1/3 dưới mặt trong cánh tay phải vết 2 tỷ lệ 2%, cơ chế hình thành thương tích do tác động của vật cứng có góc cạnh. Cộng: 3%+2% +2% = 6,84% (Làm tròn số 7%). Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ĐẶNG VĂN Đ tại thời điểm giám định là 7%.
Tại phiên tòa bị cáo ĐẶNG VĂN Đ khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.
Tại Bản cáo trạng số 155/CT-VKSĐT, ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo ĐẶNG VĂN Đ về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, trong phần tranh luận vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo ĐẶNG VĂN Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích”
Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo ĐẶNG VĂN Đ từ 36 đến 42 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong nên không xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: cần tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chổi lau nhà, 01 thanh kim loại hình trụ tròn, 01 chiếc cào có cán bằng gỗ và 01 chiếc chén bằng sứ; trả lại anh Vũ Văn T2 số tiền 7.000.000đ, trả lại anh Ninh Viết L1 số tiền 20.000.000đ. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước, bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo để có nhiều thời gian sửa chữa sai lầm, sớm trở về hòa nhập xã hội và chăm sóc vợ con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/7/2023, tại nhà ở của ông Đặng Xuân T1 thuộc xóm I, xã T, huyện Đ, do có mâu thuẫn giữa hai anh em ruột từ trước nên sau khi lời qua tiếng lại cãi chửi nhau Đ1 đã có hành vi dùng cán của một chiếc chổi lau nhà đè vào cổ anh L, dùng tay kéo chiếc cào có cán bằng gỗ dài 1,9 mét khiến phần bàn cào có năm răng bằng kim loại móc vào phía đầu của anh L, dùng thân của chiếc cào đè vào cổ, ngực của anh L. Ngoài ra Đ1 còn dùng răng cắn vào cẳng tay trái của anh L, quá trình vật lộn với L, bị cáo Đ1 còn gây ra thương tích cho anh L ở vùng đỉnh và đầu gối phải anh L với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Đặng Xuân L tại thời điểm giám định là 34%.
Hành vi của bị cáo ĐẶNG VĂN Đ nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 134 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng ... hung khí nguy hiểm....
...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
...
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, khung hình phạt mà bị cáo phải chịu trách nhiệm thuộc trường hợp là tội phạm rất nghiêm trọng. Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức về tác động của tội phạm do mình gây ra sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện, gây mất an ninh, trật tự của địa phương, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, do vậy cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo bằng pháp luật hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi thực hiện tội phạm của mình; quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã tác động gia đình dùng tiền của mình để bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại để khắc phục hậu quả. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bố đẻ bị cáo là ông Đặng Xuân H được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, tại phiên tòa người bị hại anh L xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo Đ1 có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa có tiền án tiền sự gì, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tại phiên tòa giữa bị cáo và bị hại đã hòa giải được mâu thuẫn, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại trước thời điểm xét xử, đồng thời bị hại xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và buộc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo, tính khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo ĐẶNG VĂN Đ đã tự nguyện tác động gia đình dùng tiền của mình bồi thường cho bị hại anh L số tiền 70.000.000 đồng. Tại phiên tòa người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên về việc đã bồi thường xong, không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc chổi lau nhà cán bằng gỗ, đường kính 02 cm, đầu chổi làm bằng vải màn màu xanh được cuốn kín bằng bìa carton niêm phong ký hiệu “A”, 01 thanh kim loại hình trụ tròn dài 1,1 m, đường kính 0,8 cm được cuốn kín bằng bìa carton niêm phong ký hiệu “B”, 01 chiếc cào có cán bằng gỗ, hình trụ, dài 1,9 m, đường kính 02 cm, răng cào làm bằng kim loại gồm 05 chiếc được dán kín bằng bìa carton niêm phong ký hiệu “C” và 01 chiếc chén bằng sứ, màu trắng được niêm phong trong hộp bìa carton ký hiệu “D”, do không còn giá trị sử dụng và ông T1, bà M không đề nghị được xin lại.
Trả lại anh Vũ Văn T2 số tiền 7.000.000 đồng, trả lại anh Ninh Viết L1 số tiền 20.000.000 đồng là số tiền các anh tự nguyện nộp thay cho bị cáo Đ1 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ để bồi thường cho bị hại nhưng nay bị cáo và bị hại đã bồi thường xong nên trả lại cho anh T2, anh L1 để quản lý, sử dụng.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[7] Về bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam bị cáo ĐẶNG VĂN Đ với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
[8] Đối với hành vi của anh Đặng Xuân L gây thương tích cho bị cáo ĐẶNG VĂN Đ với tỉ lệ 7% tổn thương cơ thể. Tuy nhiên, do ĐẶNG VĂN Đ có đơn không yêu cầu khởi tố hình sự đối với L về hành vi gây thương tích cho Đ1 nên L không bị xử lý hình sự về hành vi gây thương tích cho Đ1. Ngày 06/11/2023, Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 48/QĐ-XPHC đối với anh L về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, số tiền phạt là 6.500.000 đồng, anh L đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định để sung quỹ Nhà nước.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 54 của Bộ luật hình sự. Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo ĐẶNG VĂN Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt chính: Xử phạt ĐẶNG VĂN Đ 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/10/2023.
- Quyết định tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Ra Quyết định tạm giam bị cáo ĐẶNG VĂN Đ với thời hạn là 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết tiếp.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:
- 01 chiếc chổi lau nhà cán bằng gỗ, đường kính 02 cm, đầu chổi làm bằng vải màn màu xanh được cuốn kín bằng bìa carton niêm phong ký hiệu “A”.
- 01 thanh kim loại hình trụ tròn dài 1,1 m, đường kính 0,8 cm được cuốn kín bằng bìa carton niêm phong ký hiệu “B”.
- 01 chiếc cào có cán bằng gỗ, hình trụ, dài 1,9 m, đường kính 02 cm, răng cào làm bằng kim loại gồm 05 chiếc được dán kín bằng bìa carton niêm phong ký hiệu “C”.
- 01 chiếc chén bằng sứ, màu trắng được niêm phong trong hộp bìa carton ký hiệu “D”.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/12/2023 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ).
Trả lại anh Vũ Văn T2 số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) tại biên lai thu tiền số 0002368 ngày 25/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và trả lại anh Ninh Viết L1 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tại biên lai thu tiền số 0002369 ngày 26/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Về án phí: Buộc bị cáo ĐẶNG VĂN Đ phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo (ĐẶNG VĂN Đ); bị hại (anh Đặng Xuân L), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Vũ Văn T2, anh Ninh Viết L1) báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Đặng Xuân T1, bà Vũ Thị M), báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Giang |
Bản án số 157/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 157/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Đ 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích
