Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 157/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 9 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Đạt Phương.
Ông Đào Khel.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Thành Công - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Mị - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 137/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Bành Chên T2, sinh ngày: 15/12/1971 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: ấp C, thị trần Lịch Hội T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở hiện nay: số I, đường C, Khóm E, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: B (chết) và bà Quách Thị K (chết); vợ: Trần Bích L, con: 02 người lớn sinh năm 2013 và nhỏ sinh năm 2017; tiền sự: Không; tiền án: 01 lần, tại bản án hình sự sơ thẩm số 91/2015/HSST, ngày 01/6/2015 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tuyên phạt 02 năm tù về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, chấp hành xong năm 2016, nhưng chưa được xóa án tích do chưa chấp hành nghĩa vụ dân sự. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/5/2024 đến nay (có mặt).
  2. Lê Văn Đ, sinh ngày: 01/01/1990 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: Số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn T1 (chết) và bà Danh Thị Đ1; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Vào ngày 23/11/2017 bị Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xóa tiền sự do đến nay Đời chưa chấp hành việc đóng phạt; tiền án: Không; nhân thân: Vào ngày 13/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng. Đến ngày 19/01/2022, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng ra Quyết định miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/5/2024 đến nay (có mặt).

- Bị hại:

  1. Ông Trần Văn H, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số C, đường Đ, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  2. Ông Lê Bảo S, sinh năm 2004. Địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  3. Ông Lưu Khánh H1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số A, đường K, Khóm D, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn Đ và Bành C để có tiền tiêu xài cá nhân, Đ và T2 đã cùng nhau thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố S, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 03 tháng 5 năm 2024, Đời nhắn tin rủ T2 đi lấy trộm xe của người khác thì T2 đồng ý. Tan điều khiển xe mô tô biển số 83F3-8194 chạy qua nhà của Đ tại số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S. Sau đó, T2 điều khiển xe chở Đ đi qua nhiều tuyến đường trên địa bàn thành phố S để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 13 giờ, khi đi đến trước nhà số C, đường Đ, Khóm A, Phường F, thành phố S thì Đ và T2 phát hiện xe mô tô hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu đen, biển số 83P4-535.86 của ông Trần Văn H đậu ở dưới lề đường trước nhà, không có người coi nên T2 dừng xe lại, Đ xuống xe đi bộ đến gần chiếc xe dùng cây đoản bẻ khóa nhưng không được do cây đoản bị gãy, nên Đ dắt xe ra lộ rồi ngồi lên xe cho T2 vừa điều khiển xe vừa dùng chân đẩy chiếc xe vừa lấy trộm đi về hướng cầu K. Khi đến chân cầu K, Đ dùng tay giật mặt nạ của chiếc xe ra, còn T2 thì bứt dây điện ổ khóa câu lại đề máy thì xe nổ máy. Đời điều khiển xe lấy trộm, cùng chạy về nhà của T2 tại số I, đường C, Khóm E, Phường H, thành phố S rồi cất giấu xe lấy trộm vào chuồng gà. Sau đó, T2 đưa trước cho Đ 1.700.000 đồng và điều khiển xe chở Đ về nhà. Sau khi có tiền thì Đ mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 04 tháng 5 năm 2024, T2 bán xe mô tô trộm được của ông H cho một người đàn ông không rõ họ tên và địa chỉ với giá 4.000.000 đồng, bán xong T2 đưa thêm cho Đời 300.000 đồng. Sau khi có tiền, T2 và Đ tiêu xài cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐG ngày 14/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố S, kết luận: 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu đen, số máy: JA39E2861547, số khung: RLHJ392XNY712385, biển số 83P4-535.86, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 70%, với giá 12.460.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn H yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, các bị cáo đồng ý bồi thường nhưng chưa bồi thường.

Vụ thứ hai: Vào sáng ngày 12 tháng 5 năm 2024, Đời nhắn tin rủ T2 đi lấy trộm xe nhưng T2 không trả lời. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, T2 điều khiển xe mô tô biển số 83F3-8194 chở vợ và con vào khu văn hóa Hồ N, Khóm E, Phường F, thành phố S đi hội chợ chơi. Khi đến nơi, T2 kêu vợ và con đi vào hội chợ còn T2 ở lại giữ xe. Lúc này, T2 ngồi quan sát thì phát hiện có nhiều xe máy đậu trong khu vực bóng tối, không có người trông coi nên nãy sinh ý định lấy trộm xe. Ngay lúc này, Đ gọi điện thoại cho T2 hỏi mượn tiền thì T2 nói hết tiền, T2 đang ở trong Hồ N và rủ Đ đến đây để lấy trộm xe thì Đ đồng ý và kêu T2 chạy qua nhà rước Đ. Sau đó, T2 điều khiển xe đến nhà của Đ, khi gặp thì T2 đưa cho Đ cây đoản bẻ khóa rồi điều khiển xe chở Đ đi vào Hồ N. Khi đến khu vực trước Miếu K1, T2 dừng xe lại chỉ cho Đ thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh đen bạc, biển số 86B4-48933 của Lê Bảo S đậu phía trong, không có người trông coi, T2 kêu Đời lấy trộm chiếc xe này, còn T2 ngồi trên xe canh đường. Khi thấy Đ bẻ khóa xe không được rồi dùng tay mở mặt nạ xe ra và bứt dây điện câu lại, đạp nổ máy xe thì cùng lúc này vợ của T2 đi từ bên trong hội chợ ra nên T2 điều khiển xe chở vợ và con về nhà. Còn Đ điều khiển xe vừa trộm được chạy ra hướng cổng Hồ N, khi đó ông S phát hiện Đ trộm xe của mình nên chạy bộ ra hướng cổng Hồ N thì chặn được Đ và cùng lực lượng Công an khống chế, bắt giữ Đời cùng tang vật đưa về trụ sở Công an P1, thành phố S tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐG ngày 14/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố S, kết luận: 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, số máy: JA39E0901928, số khung: 3912KY045878, màu xanh-đen-bạc, biển số 86B4-489.33, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 50%, với giá 12.500.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 (một) xe mô tô dạng Dream, màu nâu, biển số 83F3-8194, số máy: 152FM00072575, số khung: LXDXCGL01Y6039876; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, màn hình có nhiều vết nứt; 01 (một) cây đoản bằng kim loại dài 20cm, màu trắng, gồm hai khớp nối với nhau, một đầu mài nhọn uốn cong, một đầu nguyên khối hình tròn; 01 (một) đầu tuýp lục giác bằng kim loại dài 05cm; 01 (một) đầu tuýp lục giác bằng kim loại dài 10cm, có một đầu mài nhọn; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh đen; 01 (một) nón lưỡi chai bằng vải; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu xanh- đen-bạc, biển số 86B4-489.33, số máy: JA39E0901928, số khung: 3912KY045878.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Bảo S không yêu cầu bồi thường.

Trong quá trình điều tra, T2 còn khai nhận ngoài những lần trộm cắp tài sản nêu trên, thì T2 còn cùng với Trần Tấn P, sinh năm: 1988, nơi cư trú: Số F, đường C, Khóm E, Phường I, thành phố S trộm cắp hai xe mô tô của người khác. Cụ thể như sau: Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 09 tháng 4 năm 2024, P điện thoại rủ T2 đi vào Hồ N uống cà phê thì T2 đồng ý. Tan điều khiển xe mô tô biển số 83P3-8194 đến nhà của P tại số F, đường C, Khóm E, Phường I, thành phố S. Sau đó, T2 điều khiển xe chở P đi đến đường L rồi qua cầu M rẽ trái vào đường K, chạy một đoạn Phát phát hiện trước nhà số A, đường K, Khóm D, Phường H, thành phố S có một xe mô tô hiệu Honda, loại FUTURE FI, màu đỏ - nâu - đen, biển số 83P4-380.51 của ông Lưu Khánh H1, không có người coi, lúc này P rủ T2 lấy trộm chiếc này thì T2 đồng ý. T2 dừng xe cho P xuống đi lại dùng khóa mở khóa, rồi ngồi lên xe khởi động máy và điều khiển xe chạy đi, lúc này T2 cũng điều khiển xe cùng chạy về nhà của T2 tại số I, đường C, Khóm E, Phường H, thành phố S cất giấu chiếc xe vừa trộm được vào chuồng gà. Sau khi giấu xe xong, T2 tiếp tục điều khiển xe chở P đi về hướng huyện L, tỉnh Sóc Trăng để tìm xe lấy trộm. Khi đến khu vực xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng thì P nhìn thấy và chỉ cho T2 trong lề bên phải chổ bán ghe, vỏ lãi có một xe mô tô loại Future, màu trắng bạc (không rõ biển số), không có người trông coi. T2 dừng xe cho P đi lại dùng khóa mở khóa và ngồi lên xe khởi động máy, rồi P và T2 mỗi người điều khiển một xe chạy về nhà của T2 cất giấu. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T2 bán xe mô tô trộm được ở xã T cho một người đàn ông (không rõ họ tên và địa chỉ) với giá 5.000.000 đồng ở khu vực đường C, Phường H, thành phố S. Tiếp tục, khoảng 07 giờ ngày 10 tháng 4 năm 2024, Tan bán xe mô tô biển số 83P4-380.51 trộm được của ông Lưu Khánh H1 ở khu vực nghĩa trang liệt sĩ tỉnh S cho một người đàn ông (không rõ họ tên và địa chỉ) với giá 7.000.000 đồng. Số tiền bán xe có được T2 và P chia nhau mỗi người 6.000.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐG ngày 05/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố S, kết luận: 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Future FI, màu đỏ - đen - nâu, biển số 83P4-380.51, số máy: JC90E0037005, số khung: 7652LY027150, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 70%, với giá 21.140.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lưu Khánh H1 yêu cầu bồi thường số tiền 21.140.000 đồng, bị cáo T2 đồng ý bồi thường cho bị hại.

Tại Cáo trạng số 141/CT-VKSTPST ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố các bị cáo Bành Chên T2 và Lê Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của các bị cáo Bành Chên T2 và Lê Văn Đ và đề nghị Tòa án tuyên bố các bị cáo T2 và Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Các bị cáo thành khẩn khai báo; các bị cáo tự khai ra những lần phạm tội trước đó được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đ và T2 phạm tội hai lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo T2 có tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T2 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, xử phạt bị cáo Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) cây đoản bằng kim loại 20cm, màu trắng, gồm 02 khớp nối với nhau, một đầu mài nhọn uống cong, một đầu nguyên khối hình tròn.
  • 01 (một) đầu tuýp lục giác bằng kim loại dài 5cm.
  • 01 (một) đầu tuýp lục giác dài 10cm, có một đầu mài nhọn bằng kim loại.
  • 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh đen.
  • 01 một) nón vải lưỡi chai.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen của bị cáo Đ.

- Trả lại cho bị cáo T2:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng màn hình có nhiều vết nứt.

Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô dạng Dream, màu nâu, biển số 83F3-8194, số máy: 152FM00072575, số khung: LXDXCGL01Y6039876.

01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn: xanh-đen-bạc, biển số 86B4-48933, số máy: JA39E0901928, số khung: 3912KY045878. Giao cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S làm rõ chủ sở hữu xử lý theo pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn H yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, các bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận, bị hại Lưu Khánh H1 yêu cầu bị cáo T2 bồi thường số tiền 21.140.000 đồng, bị cáo T2 đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: buộc các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại ông Lê Bảo S vắng mặt, xét việc vắng mặt của đương sự nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  2. [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  3. [3] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Bành Chên T2 và Lê Văn Đ thừa nhận nội dung cáo trạng phản ánh đúng hành vi của bị cáo, lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Để có tiền tiêu xài cá nhân, các bị cáo Đ và T2 đã cùng nhau thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản của người khác trên địa bàn thành phố S.
    • [3.1] Vụ thứ nhất: Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 03 tháng 5 năm 2024, Đ và T2 lấy trộm một xe mô tô, nhãn hiệu Honda, biển số 83P4-535.86, có giá 12.460.000 đồng của ông Trần Văn H tại trước nhà số C, đường Đ, Khóm A, Phường F, thành phố S.
    • [3.2] Vụ thứ hai: Vào khoảng 20 giờ 45 phút, ngày 12 tháng 5 năm 2024, Đ và T2 lấy trộm một xe mô tô, nhãn hiệu Honda, biển số 86B4-489.33, có giá 12.500.000 đồng của Lê Bảo S tại khu vực trước Miếu K1, khu văn hóa Hồ N, Khóm E, Phường F, thành phố S. Tổng giá trị tài sản bị cáo Đ chiếm đoạt là 24.960.000 đồng.
    • [3.3] Ngoài ra, vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 09 tháng 4 năm 2024, bị cáo T2 còn cùng với ông Trần Tấn P lấy trộm xe mô tô, nhãn hiệu Honda, biển số 83P4-380.51, có giá 21.140.000 đồng của ông Lưu Khánh H1 tại trước nhà số A, đường K, Khóm D, Phường H, thành phố S. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo T2 chiếm đoạt là 46.100.000 đồng.
  4. [4] Các bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý lén lút lấy trộm tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Khoản 1 Điều 173 BLHS quy định: Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Từ đó, Cáo trạng số 141/CT-VKSTPST ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo T2 và bị cáo Đ để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.
  5. [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo T2 và Đ có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội hai lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo T2 còn có tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  6. [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo và các bị cáo tự khai ra những lần phạm tội trước đó được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  7. [7] Về hình phạt: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên là xử phạt các bị cáo hình phạt tù với một thời gian nhất định đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
  8. [8] Về xử lý vật chứng:
    • [8.1] Đối với các vật chứng: 01 (một) cây đoản bằng kim loại 20cm, màu trắng, gồm 02 khớp nối với nhau, một đầu mài nhọn uống cong, một đầu nguyên khối hình tròn; 01 (một) đầu tuýp lục giác bằng kim loại dài 5cm; 01 (một) đầu tuýp lục giác dài 10cm, có một đầu mài nhọn bằng kim loại; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh đen; 01 (một) nón vải lưỡi chai bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung bị cáo Đ dùng nhắn tin rủ bị cáo T2 đi trộm, Đời ý kiến không nhận lại nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
    • [8.2] Đối với các vật chứng:
    • Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng màn hình có nhiều vết nứt của bị cáo T2, nên trả lại cho bị cáo T2.
    • Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô dạng Dream, màu nâu, biển số 83F3-8194, số máy: 152FM00072575, số khung: LXDXCGL01Y6039876 và 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn: xanh-đen-bạc, biển số 86B4-48933, số máy: JA39E0901928, số khung: 3912KY045878. Giao cho cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố làm rõ chủ sở hữu xử lý theo pháp luật.
  9. [9] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại ông Trần Văn H yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, các bị cáo T2 và Đ đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bị hại ông Lưu Khánh H1 yêu cầu bị cáo T2 bồi thường số tiền 21.140.000 đồng, bị cáo T2 đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bị hại S không yêu cầu không xem xét.
  10. [10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự theo quy định pháp luật.
  11. [11] Đối với ông Trần Tấn P quá trình điều tra ông P không thừa nhận cùng bị cáo T2 trộm xe, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của ông P, Hội đồng xét xử không xem xét.
  12. [12] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bành Chên T2.

Khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn Đ.

Các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Bành Chên T2 và Lê Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Bành Chên T2 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/5/2024.
  3. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2024.
  4. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy:
      • 01 (một) cây đoản bằng kim loại 20 cm, màu trắng, gồm 02 khớp nối với nhau, một đầu mài nhọn uống cong, một đầu nguyên khối hình tròn.
      • 01 (một) đầu tuýp lục giác bằng kim loại dài 5cm.
      • 01 (một) đầu tuýp lục giác dài 10cm, có một đầu mài nhọn bằng kim loại. 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh đen.
      • 01 (một) nón vải lưỡi chai.
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen.
    • - Trả lại cho bị cáo Bành Chên T2: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng màn hình có nhiều vết nứt.
    • - Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô dạng Dream, màu nâu, biển số 83F3-8194, số máy: 152FM00072575, số khung: LXDXCGL01Y6039876 và 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn: xanh-đen-bạc, biển số 86B4-489.33, số máy: JA39E0901928, số khung: đen 3912KY045878. Giao cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố S làm rõ chủ sở hữu xử lý theo quy định của pháp luật. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.
  5. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
    • Buộc bị cáo Bành Chên T2 và Lê Văn Đ liên đới bồi thường cho bị hại Trần Văn H số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
    • Buộc bị cáo Bành Chên T2 bồi thường cho bị hại ông Lưu Khánh H1 số tiền 21.140.000 đồng (hai mươi mốt triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng).
    • Bị hại Lê Bảo S không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Về án phí: Buộc bị cáo Bành Chên T2 và Lê Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
    • Buộc bị cáo T2 phải nộp số tiền 1.432.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • Buộc bị cáo Đ phải nộp số tiền 375.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  7. Thời hạn kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tính từ ngày họ nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. (Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND TP Sóc Trăng (1);
  • - Công an TP Sóc Trăng (Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ, Cơ quan THAHS, Cơ quan cảnh sát điều tra) (3);
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng (1);
  • - Bị cáo (2), bị hại (3);
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng, hồ sơ THAHS (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 157/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger