Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/HS-PT

Ngày 22-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thương Huyền

Các Thẩm phán: Bà Phạm Uyên Thy

Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh gia phiên tòa: Bà Dương Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số:111/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo Lê Kim C, Võ Viết D và Đỗ Xuân H do có kháng cáo của các bị cáo Lê Kim C, Võ Viết D và Đỗ Xuân H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2024 /HS-ST ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo kháng cáo:

  1. Lê Kim Cương; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 16/06/1989 tại: tỉnh Đắk Lắk; Hộ khẩu thường trú: thôn A, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: 6 Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh: Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Lê Minh C1 và bà Nguyễn Thị T ; Có vợ tên Hà Thị N (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2018; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/08/2023 đến ngày 18/08/2023 được tại ngoại (có mặt).
  2. Võ Viết Dũng; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 20/10/1983 tại: tỉnh Khánh Hòa; Hộ khẩu thường trú: 1 P, Phường 1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh: Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Võ Văn H1 và bà Nguyễn Thị T1: Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên là Trần Thị L và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/08/2023 đến ngày 18/08/2023 được tại ngoại (có mặt).
  3. Đỗ Xuân H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 18/10/1990 tại: tỉnh Lâm Đồng; Hộ khẩu thường trú: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở: 4 P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh: Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Đỗ Xuân L1 và bà Nguyễn Thị P: Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/08/2023 đến ngày 18/08/2023 được tại ngoại (có mặt).

Ngoài ra, vụ án còn có bị cáo Nguyễn Minh T2 không kháng cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Kim C: Luật sư Phạm Hữu Q, Công ty L2, thuộc đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 09/8/2023 Công an P1, quận G tiến hành kiểm tra hành chính quán bida B VIP tại địa chỉ: 2 đường N, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Minh T2, Lê Kim C, Võ Viết D và Đỗ Xuân H đang đánh bạc ăn thua bằng tiền nên tiến hành bắt giữ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 bàn màu trắng và 04 ghế da màu nâu, 01 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng, Số tiền 8.150.000 đồng.
  • - 01 điện thoại di động Iphone X, SỐ IMEI: 35304593984704 thu giữ của Nguyễn Minh T2;
  • - 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro max số Imei 1: 352856111010566; Imei 2: 352856111065099 thu giữ của Lê Kim C;
  • - 01 điện thoại di động Vivo V2041 Imeil số: 863206057381518, Imei2 số: 863206057381500 thu giữ của Đỗ Xuân H;
  • - 01 điện thoại di động S A73, số Imeil: 352828295535304, số Imei2: 354462615535303; 01 điện thoại di động Iphone 7 plus Imei số: 359215074378598 và 01 điện thoại di động Nokia số Imei: 357678101494252 thu giữ của Võ Viết D;

Quá trình điều tra xác định Nguyễn Minh T2 là chủ quán bida B VIP tại địa chỉ: 2 đường N, phường A, quận G. Ngày 9/8/2023, Nguyễn Minh T2 thấy có Lê Kim C, Võ Viết D cùng T3 (không rõ lai lịch) đến chơi bida. Lúc này Nguyễn Minh T2 thấy đủ 4 người nên tự động lấy một bộ bài tây 52 lá để bốn người chơi đánh bạc ăn thua bằng tiền với hình thức đánh bài tiến lên, cách thức như sau: Sử dụng một bộ bài tây 52 lá chia đều ra bốn tụ cho bốn người tham gia chơi, mỗi tụ bài có 13 lá. Ai về nhất sẽ ăn được 200.000 đồng từ người về cuối. Ai về nhì sẽ ăn được 100.000 đồng từ người về ba. Chơi được một lúc thì T3 ra về, Đỗ Xuân H vào thay chỗ T3 tiếp tục chơi đánh bạc ăn tiền. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày thì Công an P1, quận G tiến hành kiểm tra hành chính thì phát hiện Nguyễn Minh T2, Lê Kim C, Võ Viết D và Đỗ Xuân H đang đánh bạc nên tiến hành bắt quả tang. Nguyễn Minh T2 không thu tiền xâu từ việc đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc, Nguyễn Minh T2 để trong người số tiền 650.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc. Khi bị bắt Công an thu giữ của Nguyễn Minh T2 số tiền 250.000 đồng. Nguyễn Minh T2 bị thua 400.000 đồng(BL:48-57).

Khi đi tham gia đánh bạc Võ Viết D mang theo số tiền 5.000.000 đồng. Võ Viết D lấy ra 500.000 đồng để ra chiếu bạc. Trong quá trình chơi, Võ Viết D có cho Đỗ Xuân H mượn số tiền 600.000 đồng. Khi bị bắt Công an thu giữ của Võ Viết D số tiền 1.000.000 đồng tại chiếu bạc và trong người số tiền 4.500.000 đồng là số tiền Võ Viết D sử dụng vào mục đích đánh bạc. Võ Viết D thắng được 1.100.000 đồng (BL:167-187).

Khi đi tham gia đánh bạc Lê Kim C mang theo số tiền 1.000.000 đồng và dùng số tiền này để đánh bạc. Khi bị bắt Công an thu giữ của số tiền 1.500.000 đồng. Lê Kim C thắng được 500.000 đồng

Khi đi tham gia đánh bạc Đỗ Xuân H mang theo số tiền 500.000 đồng. Trong quá trình đánh bài Đỗ Xuân H mượn của Võ Viết D 600.000 đồng. Khi bị bắt Công an thu giữ của số tiền 900.000 đồng. Đỗ Xuân H thua 200.000 đồng.

Tại Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T2, Lê Kim C, Võ Viết D và Đỗ Xuân H phạm tội “Đánh bạc”;

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T2 09 (chín) tháng tù.
  • Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt chấp hành án. (được cấn trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/08/2023 đến ngày 18/08/2023).
  • - Xử phạt bị cáo Lê Kim C 06 (sáu) tháng tù.
  • Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt chấp hành án. (được cấn trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/08/2023 đến ngày 18/08/2023).
  • - Xử phạt bị cáo Võ Viết D 06(sáu) tháng tù.
  • Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt chấp hành án. (được cấn trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/08/2023 đến ngày 18/08/2023).
  • - Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân H 06 (sáu) tháng tù.
  • Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt chấp hành án. (được cấn trừ thời gian tạm giữ từ ngày 09/08/2023 đến ngày 18/08/2023).

Ngoài ra bản án còn tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo .

Ngày 04 tháng 3 năm 2024 bị cáo Lê Kim C nộp đơn kháng cáo, ngày 05 tháng 3 năm 2024 bị cáo Võ Viết D và Đỗ Xuân H kháng cáo, lý do kháng cáo: Các bị cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo khai nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã nêu và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã kết luận đủ căn cứ xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Lê Kim C, Võ Viết D và Đỗ Xuân H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định và hợp lệ nên cần được xem xét.

Xét kháng cáo của các bị cáo các bị cáo đủ điều kiện cho hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, để nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Kim C, Võ Viết D và Đỗ Xuân H; Sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Lê Kim C 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Đánh bạc”; Xử phạt bị cáo Võ Viết D 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Đánh bạc”; Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân H 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Đánh bạc”. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Kim C: Đồng ý với ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo Lê Kim C được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo khai nhận hành vi như trong quá trình điều tra, truy tố và bản án sơ thẩm đã nêu trên. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 9/8/2023, Nguyễn Minh T2 cùng Lê Kim C, Võ Viết D, T3 (không rõ lai lịch) và Đỗ Xuân H dùng quân bài tây chơi tiến lên ăn tiền tại địa chỉ 2 đường N, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị bắt quả tang, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 8.150.000 đồng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với yêu cầu xin hưởng án treo của các bị cáo: Xét thấy, các bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số tiền dùng vào việc đánh bạc không lớn, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng đủ điều kiện cho hưởng án treo. Việc cho các bị cáo được hưởng án treo không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo là phù hợp.

[3] Về án phí: Do chấp nhận kháng cáo của các bị cáo nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1,2 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Kim C, Võ Viết D, Đỗ Xuân H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Lê Kim C, Võ Viết D, Đỗ Xuân H .

[1] Xử phạt bị cáo Lê Kim C 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Lê Kim C cho Ủy ban nhân dân Phường A, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Kim C cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trường hợp bị cáo Lê Kim C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

[2] Xử phạt bị cáo Võ Viết D 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Võ Viết D cho Ủy ban nhân dân Phường I, quận G để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Võ Viết D cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trường hợp bị cáo Võ Viết D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

[3] Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Xuân H cho Ủy ban nhân dân Phường A1, quận G để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Lê Kim C cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trường hợp bị cáo Đỗ Xuân H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

[4] Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các nội dung khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

(Đã giải thích chế định án treo).

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - VKSND Quận Gò Vấp; (1)
  • - P.PV06 - CATP; (1)
  • - Bị cáo; (3)
  • - THA Quận Gò Vấp; (1)
  • - TAND Quận Gò Vấp; (2)
  • - Công an Quận Gò Vấp; (1)
  • - UBND nơi BC cư trú; (3)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (23) (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HS-PT ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)

  • Số bản án: 157/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Kim C, Võ Viết D, Đỗ Xuân H.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger