| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:157/2023/HS - ST
Ngày 21/8/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thịnh Quang Thắng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Thuỷ
Ông Nguyễn Văn Đức – Hiệu trưởng
trường THCS xã Kim Chung, huyện Đông Anh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Luân- Kiểm sát viên
Ngày 21/8/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 161/2022/TLST - HS ngày 04 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2022/QĐXXST-HS ngày 07tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
- Họ tên: Triệu Văn K; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24/8/2005 (thời điểm thực hiện hành vi vi phạm là 17 tuổi 02 tháng 10 ngày)tại: Sơn La; HKTT: Bản S, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 6/12; Con ông Triệu Văn C và con Bàn Thị L; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt theo Quyết định truy nã và tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà;
- Đại diện hợp pháp cho bị cáo K: Ông Triệu Văn C, sinh năm 1986 và bà Bàn Thị L, sinh năm 1986; Cư trú: Bản S, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La; Có đơn từ chối tham gia tố tụng.
- Đại diện cho bị cáo K: Bà Nghiêm Thị T– Phó bí thư đoàn xã T, huyện Đ, Hà Nội; Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo K: Ông Nguyễn Văn T1 – Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H; Có mặt.
- Người bị hại: Công ty cổ phần C2 do anh Lê Trọng T2(Sn: 1978; trú tại: Số C, ngõ B đường H, thị trấn Y, huyện G, Hà Nội) – đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần C2; Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức C1, sinh năm: 1990; Trú tại: Số A ngõ I, phố Đ, phượng T; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Triệu Văn K cùng các đối tượng Lý Văn P (Sn: 1996; HKTT: Bản C, xã Q, huyện M, tỉnh Sơn La), Lò Văn T3 (S: 2005; HKTT: Bản N, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La) là công nhân làm việc tại công trường và ở tại khu K, phường T, quận L, thành phố Hà Nội. Do không có tiền tiêu xài nên các đối tượng đã rủ nhau sang khu vực huyện Đ, thành phố Hà Nội để tìm tài sản sơ hở thực hiện hành vi trộm cắp. Trong khoảng thời gian từ ngày 03/11/2022 đến ngày 08/11/2022 các đối tượng đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản là hàng rào chắn bằng sắt của công ty cổ phần C2, cụ thể như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 03/11/2022, khi đang ở tại khu trọ thuộc khu K, phường T, quận L thì Triệu Văn K rủ Lý Văn P cùng Lò Văn T3 “có sang kia lấy sắt để bán không” thì P và T3 đồng ý. Sau đó cả ba đến cửa hàng thu mua sắt vụn của anh Nguyễn Đức C1 (sinh năm: 1990; Trú tại: Số A ngõ I, phố Đ, phượng T) hỏi mượn búa và bao tải (làm công cụ đi trộm cắp tài sản). Khi gặp anh C1 thì P nói “anh cho em mượn búa”, anh C1 hỏi “lấy búa để làm gì?” thì P vờ nói “lấy búa để đi đập sắt phế liệu bọn em mua được”, anh C1 không hỏi gì thêm rồi đưa cho P mượn 02 chiếc búa bằng kim loại và nói “đem đi tí nhớ đem về”. Phin cầm búa đi ra ngoài cửa hàng thì nhặt được 03 bao tải dứa. P đưa cho T3 cầm 01 chiếc búa và 01 bao tải dứa, P cầm 01 chiếc búa và 01 bao tải dứa còn K cầm 01 bao tải dứa. Sau khi có được công cụ, các đối tượng đi đến khu vực Đ để trộm cắp tài sản. Khi đi đến đường T thuộc địa phận thôn L, xã Đ thì cả ba phát hiện trên vỉa hè của đường T (chiều đường hướng từ huyện Đ đi quận L) có hàng rào bằng kim loại, không có ai trông giữ và vắng người qua lại nên nảy sinh ý định trộm cắp. P dùng búa đập mạnh vào các trụ hàng rào làm bung nắp trụ ra còn T3 và K đi phía sau tiếp tục dùng búa cậy các thanh chốt kim loại phía trong cột trụ, tháo rời các thanh ngang kim loại làm hàng rào rồi cho vào bao tải dứa mang theo. Các đối tượng trộm cắp được đầy 03 bao tải (59 thanh ngang, 52 thanh chốt và 26 mũ chụp đều bằng kim loại) rồi mang về cửa hàng thu mua sắt vụn của anh C1. Tại đây, anh C1 hỏi “sắt ở đâu đây?” thì các P nói “sắt phế liệu của bọn em mua được” và muốn bán cho anh C1. Anh C1 thấy các đối tượng nói như vậy nên đồng ý mua với giá: 1.400.000đ. Sau khi có tiền từ việc bán tài sản trộm cắp, các đối tượng chia nhau, Phin được 700.000đ còn T3 và K1 mỗi người được 350.000đ.
Cũng bằng phương thức và thủ đoạn như trên, Lý Văn P, Lò Văn T3 và Triệu Văn K tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của công ty cổ phần C2 vào đêm ngày 08 rạng sáng ngày 09/11/2022 cụ thể:
Khoảng 21giờ 30 phút, ngày 08/11/2022 các đối tượng đi từ khu vực quận L đến đường T thuộc địa phận thôn L, xã Đ trộm cắp được 120 thanh ngang, 125 thanh chốt và 52 mũ chụp đều bằng kim loại (cất giấu trong 06 bao tải dứa). Sau khi trộm cắp được tài sản, các đối tượng tập hợp vào một địa điểm, P ở lại trông tài sản trộm cắp còn T3 và K đi bộ về mượn xe máy để chở mang đi tiêu thụ. Khi gặp anh C1, T3 nói “anh cho em mượn xe, em đi chở sắt phế liệu” anh C1 nói “cho mượn xe thì phải đặt cọc tiền hoặc một người ở lại” Sau đó T3 và K thống nhất để K ở lại còn T3 đi xe máy sang đón P. Khoảng 01 giờ ngày 09/11/2022 khi P đang ngồi trông tài sản trộm cắp thì bị lực lượng Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang. T3 mượn được xe máy của anh C1, trên đường sang đón P và chở tài sản trộm cắp về thì bị lực lượng Công an huyện Đ kiểm tra, phát hiện và đưa về trụ sở làm việc. Do không thấy P và T3 quay về nên K nhờ anh C1 đưa đi tìm nhưng không thấy.
Ngày 09/11/2022 anh Lê Trọng T2 (Sn: 1978; trú tại: Số C, ngõ B đường H, thị trấn Y, huyện G, Hà Nội) – đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần C2 (là đơn vị được giao quản lý, bảo trì hệ thống hạ tầng giao thông được bộ trên địa bàn huyện Đ) đến trình báo sự việc. Cùng ngày Cơ quan Công an đã mời anh Nguyễn Đức C1 đến làm việc.
Triệu Văn K biết việc các đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã bị Công an huyện Đ phát hiện nên đã bỏ đi khỏi nơi làm việc. Đến ngày 04/01/2023 Triệu Văn K đến Công an huyện Đ đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản.
Vật chứng tạm giữ:
- Tạm giữ của Lý Văn P:
- + 120 thanh kim loại có chiều dài 95cm, đường kính ống 5cm
- + 52 nắp trụ bằng kim loại rộng (10x3)cm
- + 125 thanh kim loại có chiều dài 41cm, đường kính 0,7cm, một đầu uốn cong dài 2,5cm.
- Tạm giữ của anh Nguyễn Đức C1:
- + 59 thanh kim loại có chiều dài 95cm, đường kính ống 5cm
- + 52 nắp trụ bằng kim loại rộng (10x3)cm
- + 26 thanh kim loại có chiều dài 41cm, đường kính 0,7cm, một đầu uốn cong dài 2,5cm.
- + 02 chiếc búa bằng kim loại: 01 chiếc búa có cán màu trắng bạc, lưỡi búa màu đen rộng 3cm dài 12cm; 01 chiếc búa có cán màu đen dài 30cm, đầu búa có kích thước (9x3,5)cm
- Tạm giữ của Lò Văn T3: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel, màu tím đen, BKS: 29N6-3777, SK: RLGXA10DD5D0002349, SM: VMVA2A-D002349.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 297 ngày 09/11/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:
- Tài sản bị chiếm đoạt ngày 03/11/2022:
- + 59 thanh kim loại có chiều dài 95cm, đường kính ống 5cm trị giá: 7.080.000đ (bảy triệu không trăm tám mươi ngàn đồng)
- + 26 mũ trụ bằng kim loại rộng (10x3)cm trị giá 390.000₫ (ba trăm chín mươi ngàn đồng)
- + 52 thanh kim loại có chiều dài 41cm, đường kính 0,7cm, một đầu uốn 2,5cm trị giá 260.000đ (hai trăm sáu mươi ngàn đồng)
- + Công thay thế, lặp đặt 600.000₫ (sáu trăm ngàn đồng) cong dài
- Tài sản bị chiếm đoạt ngày 09/11/2022:
- + 120 thanh kim loại có chiều dài 95cm, đường kính ống 5cm trị giá 14.400.000đ (mười bốn triệu bốn trăm ngàn đồng)
- + 52 nắp trụ bằng kim loại rộng (10x3)cm trị giá 780.000đ (bảy trăm tám mươi ngàn đồng).
- + 125 thanh kim loại có chiều dài 41cm, đường kính 0,7cm, một đầu uốn cong dài 2,5cm trị giá 625.000đ (sáu trăm hai mươi lăm ngàn đồng)
- + Công thay thế lắp đặt 1.200.000đ (một triệu hai trăm ngàn đồng)
Như vậy tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 25.335.000₫ (hai mươi lăm triệu ba trăm ba mươi lăm ngàn đồng)
Tại Cơ quan điều tra, Lý Văn P, Lò Văn T3 và Triệu Văn K khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được và khai toàn bộ số tiền có được do bán tài sản trộm cắp được, đã sử dụng vào tiêu xài cá nhân hết.
Đối với anh Nguyễn Đức C1, kết quả điều tra xác định: Anh C1 không biết các đối tượng mượn búa và xe máy để làm công cụ, phưng tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khi mua tài sản của các đối tượng, anh C1 cũng không biết nguồn gốc số tài sản này là do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với 02 chiếc búa tạm giữ của anh Nguyễn Đức C1, là tài sản của anh C1 mua để sử dụng phục vụ cho công việc mua bán sắt vụn. Việc anh C1 cho các các đối tượng mượn thì C1 không biết mục đích của các đối tượng mượn là để làm công cụ thực hiện hành vi vi phạm. Ngày 02/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ quyết định xử lý vật chứng trao trả 02 chiếc búa cho anh Nguyễn Đức C1.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel, màu tím đen, BKS: 29N6-3777, SK: RLGXA10DD5D0002349, SM: VMVA2A-D0002349 tạm giữ của Lò Văn T3, kết quả điều tra xác định: Chiếc xe mô tô tô nhãn hiệu SYM Angel, có số khung, số máy nguyên thủy và là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Đức C1 nên ngày 02/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe mô tô trên cho anh Nguyễn Đức C1. Về chiếc BKS 29N6-3777 do anh C1 mua từ nguồn phế liệu và tự lắp vào chiếc xe trên, không phải là BKS hợp pháp của chiếc xe và thuộc diện xe phải thu hồi. Ngày 02/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng: Chuyển 01 BKS: 29N6-3777 đến đội Cảnh sát giao thông – trật tự Công an huyện Đ để xử lý theo thẩm quyền.
Đối với các thanh ống kim loại, thanh chốt kim loại và nắp đậy bằng kim loại tạm giữ của Lý Văn P và Nguyễn Đức C1, tài liệu điều tra xác định các tài sản trên là các bộ phận thuộc hệ thống hàng rào trên vỉa hè đường T (thuộc địa phận: Lại Đà, Đ, Đ, Hà Nội) thuộc sự quản lý của công ty cổ phần C2 (là đơn vị được giao quản lý, bảo trì hệ thống hạ tầng giao thông được bộ trên địa bàn huyện Đ). Ngày 05/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ đã có quyết định xử lý vật chứng trao trả toàn bộ tài sản trên cho đại diện chủ sở hữu.
Về dân sự: Anh Lê Trọng T2 (đại diện bị hại) và anh Nguyễn Đức C1 không có yêu cầu gì về dân sự, đề nghị xử lý các đối tượng theo quy định của pháp luật.
Đối với Lý Văn P và Lò Văn T3 (đồng phạm), quá trình điều tra ngày 17/11/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ đã Quyết định khởi tố bị can; Kết luận điều tra vụ án số 24 ngày 03/02/2023. Ngày 28/02/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh ra Cáo trạng số 28 quyết định truy tố Lý Văn P và Lò Văn T3 về tội: Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 15/3/2023 Tòa án nhân dân huyện Đông Anh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và xử phạt Lý Văn P và Lò Văn T3 mỗi đối tượng 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
Trong giai đoạn truy tố, Triệu Văn K đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã yêu cầu Cơ quan cảnh sát điều tra ra Quyết định truy nã và ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với K, khi nào bắt được sẽ tiếp tục xử lý theo quy định.
Ngày 06/6/2023 bị cáo Triệu Văn K bị bắt theo Quyết định truy nã và thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm.
Tại bản cáo trạng số 155/CT -VKSÐA ngày 31/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy Triệu Văn K về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; 91; 98; 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Triệu Văn K từ 5 tháng đến 7 tháng tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Trước khi phạm tội, bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về phần bồi thường dân sự: Đã được giải quyết Bản án số 34/HSST ngày 15/3/2023 Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Hà Nội
* Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Tuy nhiên khi lượng hình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hành vi của bị cáo là lần đầu, ít nghiệm trọng, phạm tội lần đầu, bị cáo đã thành khẩn ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khi phạm tội là người chưa thành niên nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử khi lượng hình xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác đụng giáo dục.
* Đại diện cho bị cáo trình bày: nhất trí với lời khai của các bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo và không có ý kiến gì.
* Bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với sự vắng mặt của người bị hại; người có quyền, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa hôm nay. Xét quá trình điều tra, đã có lời khai đầy đủ có trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt của người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng gì đến việc giải quyết vụ án. Do đo, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ được của các bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ để kết luận: Trong ngày 03/11/2022 và đêm ngày 08 rạng sáng ngày 09/11/2022, tại thôn L, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội, Triệu Văn K và các đối tượng: Lý Văn P và Lò Văn T3 đã có hành vi Trộm cắp tài sản gồm: 179 thanh ngang ống thép đường kính 05cm, dài 95cm; 177 thanh chốt kim loại, đường kính 0,7 cm, dài 41cm, một đầu uốn cong dài 2cm; 78 mũ chụp bằng kim loại đường kính 10cm, cao 3cm của Công ty cổ phần C2. Tổng trị giá tài sản các đối tượng chiếm đoạt là: 25.335.000đồng (trong đó trị giá tài sản trộm cắp ngày 03/11/2022 là: 8.330.000đ; trị giá tài sản trộm cắp đêm ngày 08 rạng sáng ngày 09/11/2022 là: 17.005.000₫).
Hành vi của Triệu Văn K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố bị cáo là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1]. Về tình tiết tăng nặng: Theo lời khai và các tài liệu chứng cứ thể hiện ngày 03/11/2022 bị cáo trộm cắp tài sản trị giá là: 8.330.000đ; trị giá tài sản trộm cắp đêm ngày 08 rạng sáng ngày 09/11/2022 là: 17.005.000đ. Do đó, bị cáo K đã phạm tội hai lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
[4.2].Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo K là người dân tộc thiểu số, bị cáo ra đầu thú được hưởng tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo khi phạm tội là người chưa thành niên nên được áp dụng các quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn huyện Đ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố tình phạm tội.
Ngày 15/3/2023 Tòa án nhân dân huyện Đông Anh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và xử phạt Lý Văn P và Lò Văn T3 mỗi đối tượng 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đáng nhẽ ra cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội nhưng do bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng, đối tượng lang thang, không nghề; Bị cáo phạm tội hai lần chở lên, bị cáo bỏ trốn phải truy nã gây khó khăn cho việc truy tố, xét xử. Do đó, HĐXX nhận thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo giáo dục chung và phòng ngừa riêng.
[6] Về hình phạt bổ sung: Trước khi phạm tội, bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về phần bồi thường dân sự: Đã được giải quyết Bản án số 34/HSST ngày 15/3/2023 Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Hà Nội.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn (thuộc khu V) theo Quyết định 861 ngày 04/6/2021 của Thủ tướng chính phủ nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo; người bị hại, người có quyền nghĩa vụ luên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54; Điều 91, 98, 101 Bộ luật hình sự;
- - Điều 136; Điều 331; Điều 333;Điều 336; Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Xử phạt: T4 (Năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ 06/6/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về phần bồi thường dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án số 34/HSST ngày 15/3/2023 Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Hà Nội.
- Về án phí: Bị cáo miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử công khai sơ thẩm; Bị cáo, Đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Thịnh Quang Thắng |
Bản án số 157/2023/HS - ST ngày 21/08/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 157/2023/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong ngày 03/11/2022 và đêm ngày 08 rạng sáng ngày 09/11/2022, tại thôn Lại Đà, xã Đông Hội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, K và các đối tượng: Lý Văn P và Lò Văn T đã có hành vi Trộm cắp tài sản gồm: 179 thanh ngang ống thép đường kính 05cm, dài 95cm; 177 thanh chốt kim loại, đường kính 0,7 cm, dài 41cm, một đầu uốn cong dài 2cm; 78 mũ chụp bằng kim loại đường kính 10cm, cao 3cm của Công ty cổ phần Công trình giao thông 2 Hà Nội. Tổng trị giá tài sản các đối tượng chiếm đoạt là: 25.335.000đồng (trong đó trị giá tài sản trộm cắp ngày 03/11/2022 là: 8.330.000đ; trị giá tài sản trộm cắp đêm ngày 08 rạng sáng ngày 09/11/2022 là: 17.005.000đ).
