Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12-6-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê

Bà Nguyễn Thị Phú

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2025/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐ-ST ngày 11/4/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 87/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/5/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 27/10/1987 (vắng mặt)
    Nơi thường trú: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Số căn cước công dân: [...]
  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 20/3/1989 (vắng mặt)
    Nơi thường trú và địa chỉ cuối cùng của chị H ở Việt Nam: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Hiện chị H đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ). Số căn cước công dân: [...]

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn anh và chị H được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 14/4/2010 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là thị trấn Đ), huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị H về nhà anh làm dâu và chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2019 chị H đi lao động tại Đài Loan. Sang Đài Loan vợ chồng vẫn hòa thuận nhưng đến đầu năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên sống ly thân nhau, ai có cuộc sống của riêng người đó. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh chị đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Kể từ tháng 2/2024 đến nay anh và chị H không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống của riêng người đó. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Diễm Q, sinh ngày 15/12/2011 và cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 26/11/2015. Hiện nay các con chung đang sinh sống ổn định cùng anh. Sau ly hôn anh đề nghị giao 02 con chung cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, do điều kiện công việc bận anh không thể đến làm việc với Tòa án được nên anh đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại tất cả các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Chị Nguyễn Thị H là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Tại biên bản làm việc ngày 01/4/2025 và ngày 11/4/2025 ông Nguyễn Văn H1 là bố đẻ của chị Nguyễn Thị H trình bày: Anh Đ là con rể, chị H là con gái ông. Anh, chị được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay là thị trấn Đ), huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị H về nhà anh Đ làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế nên năm 2019 chị H đi lao động tại Đài Loan. Đến đầu năm 2024 ông có nghe chị H nói vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Ông có khuyên bảo anh chị về sống với nhau để cùng chăm sóc con cái nhưng không được. Anh, chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Diễm Q, sinh ngày 15/12/2011 và cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 26/11/2015. Hiện nay cả hai cháu đang sinh sống cùng anh Đ. Về yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của anh Đ đối với chị H, đó là chuyện riêng của vợ chồng anh chị nên ông không cho ý kiến. Khi chị H gọi điện về thông báo với ông rằng chị sẽ ly hôn với anh Đ, ông vẫn luôn khuyên vợ chồng anh chị cố gắng hàn gắn với nhau để cùng nuôi con nhưng không được. Tài sản, công nợ của chung của anh, chị thì ông không rõ.

Ngoài ra, ông trình bày do điều kiện công việc bận ông không thể đến làm việc với Tòa án được nên ông đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại tất cả các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Cháu Nguyễn Khánh L trình bày: Cháu là học sinh lớp 4A4 trường Tiểu học Đ1. Hiện nay cháu sinh sống cùng bố tại địa chỉ tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cháu được bố chăm sóc đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần, được ăn uống, được cho đi học đầy đủ. Hiện nay mẹ cháu đang làm việc tại nước ngoài không có thời gian chăm sóc cháu nên nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn được ở cùng bố.

Cháu Nguyễn Thị Diễm Q trình bày: Cháu là học sinh lớp 8A3 trường THCS Đ1. Hiện nay cháu sinh sống cùng bố tại địa chỉ Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cháu được bố chăm sóc đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần, được ăn uống, được cho đi học đầy đủ. Hiện nay mẹ cháu đang làm việc tại nước ngoài không có thời gian chăm sóc cháu nên nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn được ở cùng bố.

Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Nguyễn Văn Đ, biên bản lấy lời khai ông Nguyễn Văn H1, cháu Nguyễn Khánh L, cháu Nguyễn Thị Diễm Q và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chị Nguyễn Thị H không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn chị H là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Diễm Q, sinh ngày 15/12/2011 và cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 26/11/2015 cho anh Nguyễn Văn Đ nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh Đ đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Nguyễn Văn Đ khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị H và đề nghị giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. [2]. Về thẩm quyền giải quyết: Theo công văn trả lời số 4730/QLXNC-P3 ngày 12/3/2025 của Cục Q1 - Bộ C cung cấp, chị H đã xuất nhập cảnh 03 lần, lần gần nhất xuất cảnh ngày 01/11/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định chị H hiện nay đang lao động tại nước ngoài. Mặt khác, chị H là bị đơn hiện có nơi thường trú cuối cùng tại tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. [3].Về việc vắng mặt của đương sự:
    Đối với nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn Đ.
    Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị H: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn, ông H1 (là bố đẻ của chị H), Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của chị H trước khi xuất cảnh ở tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho chị H thông qua người thân của chị H là ông Nguyễn Văn H1 (là bố đẻ của chị H) và đề nghị ông H1 thông báo cho chị H biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Đ và bị đơn là chị Nguyễn Thị H. Ông H1 cho biết chị H vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị H không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị H tại nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  4. [4]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 14/4/2010 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là thị trấn Đ), huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống đến đầu năm 2024 vợ chồng anh Đ, chị H phát sinh mâu thuẫn, anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
    Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Đ đối với chị Nguyễn Thị H. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh Đ và chịu H chung sống với nhau hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Từ đó đến nay, chị H, anh Đ không còn quan tâm, không còn liên lạc với nhau nữa. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng anh Đ, chị H không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ đối với chị H, xử cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị H như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
  5. [5]. Về nuôi con chung: Anh Đ, chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Diễm Q, sinh ngày 15/12/2011 và cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 26/11/2015. Hiện nay hai con chung đang ở cùng anh Đ, cháu Q và cháu L có nguyện vọng được ở cùng bố. Sau khi ly hôn anh Đ có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Q và cháu L.
    Xét yêu cầu nuôi con chung của anh Đ, Hội đồng xét xử thấy: Chị H đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài do vậy không thể trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Từ khi chị H đi lao động ở nước ngoài, cháu Q và cháu L vẫn được anh Đ chăm sóc, nuôi dưỡng, các cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Cháu Q và cháu L trên 07 tuổi cũng có nguyện vọng được sống cùng với anh Đ nếu bố, mẹ ly hôn. Vì vậy, căn cứ vào điều kiện thực tế và để đảm bảo quyền, lợi ích mọi mặt của cháu Q, cháu L cũng như nguyện vọng của các con chung. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận đề nghị của anh Nguyễn Văn Đ, giao cho anh Nguyễn Văn Đ nuôi cháu Nguyễn Thị Diễm Q, sinh ngày 15/12/2011 và cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 26/11/2015 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật sau khi ly hôn là phù hợp điều kiện thực tế cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
    Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị H không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
    Trường hợp anh Nguyễn Thị H về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
  6. [6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  7. [7]. Về tài sản, công nợ chung: Do anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  8. [7]. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
  9. [8]. Về quyền kháng cáo:
    Nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ đang ở trong nước nhưng vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    Bị đơn chị Nguyễn Thị H đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Diễm Q, sinh ngày 15/12/2011 và cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 26/11/2015 cho anh Nguyễn Văn Đ nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000430 ngày 07/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Nguyễn Văn Đ đã nộp xong án phí sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
    Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 157/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa anh Đ và chị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger