Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án: 157/2025/DS-ST

Ngày: 02 - 6 - 2025

“Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Trung
Ông Lê Trung Thành

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Mỹ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thạnh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày từ ngày 22/5/2025 đến ngày 27/5/2025 và từ ngày 27/5/2025 đến ngày 02/6/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Phú xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 107/2017/TLST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2017, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 664//2025/QĐST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 855/2025/TB-TA ngày 29 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Bà Nguyễn Thị Nhung, sinh năm 1971; (Có mặt tại phiên tòa và khi tuyên án)
    2. Ông Dương Thanh Tùng, sinh năm 1969. (Có mặt tại phiên tòa và khi tuyên án)

    Cùng địa chỉ: Tổ 01, khóm Vĩnh Hưng, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

  2. Bị đơn: Ông Dương Văn Nghiệp, sinh năm 1944. Địa chỉ: Tổ 01, khóm Vĩnh Hưng, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án không có lý do)
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc Dung, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số 100/15 Bình Phước B, xã Bình Chuẩn, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. (Có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án không có lý do)
    2. Bà Châu Thị Dốt, sinh năm 1946. Địa chỉ: Tổ 01, khóm Vĩnh Hưng, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt tại phiên tòa và khi tuyên án không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Nhung, ông Dương Thanh Tùng trình bày:

Vợ chồng ông bà có 7.607m² đất nông nghiệp tọa lạc tại khóm Vĩnh Hưng, thị trấn Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã được UBND huyện Châu Phú cấp thuộc thửa số 1577, 1580, 1581, tờ bản đồ số 99 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03442 ngày 20/6/2011 cho Nguyễn Thị Nhung và Dương Văn Tùng đứng tên. Ông Dương Văn Nghiệp là họ hàng với nhau ông Nghiệp có diện tích 1.711,4m² giáp đất với vợ chồng tôi và ông Nghiệp đã được UBND huyện Châu Phú cấp giấy. Quá trình sử dụng ông Nghiệp tự ý nhổ bỏ trụ ranh, lấn chiếm qua phần đất của vợ chồng ông bà ngang khoảng 2,8m, dài khoảng 24m. Do đó, vợ chồng bà yêu cầu ông Nghiệp trả lại diện tích ngang 2,8m, dài khoảng 24m.

Quá trình giải quyết Tòa án đã thực hiện đo đạc theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 08/4/2023 thể hiện phần đất phần diện tích đất vợ chồng ông bà chỉ dẫn một phần nằm trong mương nước, một phần nằm trong đất của bà Nguyễn Thị Kim Ngọc Dung gồm các điểm 6, 7, 21, 20, 6 có diện tích 81m² nằm trong thửa 1576 của bà Dung, các điểm 3, 5, 20, 19, 18, 22, 3 diện tích 97m² nằm trong mương nước chưa được cấp giấy chứng nhận. Phần của ông Nghiệp chỉ gồm: điểm số 2 nằm trong thửa 1580 của vợ chồng bà, điểm 4, 5 nằm trong mương nước, điểm 7 là móc ranh giữa 2 thửa 1577 và 1576.

Do đó, vợ chồng bà xác định yêu cầu khởi kiện như sau: vợ chồng bà được cấp giấy tới đâu thì yêu cầu Tòa án giải quyết tới đó, nếu phần đất ông Nghiệp lấn của vợ chồng bà trên thực tế chưa được cấp giấy, của nhà nước thì vợ chồng bà chấp nhận là của nhà nước, thì sử dụng chung. Đối với phần ranh đất của bà Ngọc Dung thì bà không yêu cầu nếu có kiện thì ông bà kiện bằng vụ kiện khác.

Ông Dương Văn Nghiệp trình bày:

Khi thực hiện đo đạc ông cũng như phía nguyên đơn đều có chứng kiến, ông có chỉ móc ranh và phía nguyên đơn cũng có chỉ móc ranh, các bên chỉ khác nhau và Tòa án có thực hiện đo theo chỉ dẫn của các bên. Ông thống nhất với Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 08/4/2023 của Văn Phòng đăng ký đất chi nhánh Châu Phú. Ông yêu cầu Tòa án chấp nhận theo sự chỉ dẫn đo đạc của ông, nếu phần nào ông lấn thì ông chấp nhận trả lại cho nguyên đơn, phần nào của nhà nước thì các bên sử dụng chung, phần nào ông Tùng, bà Nhung lấn thì ông yêu cầu trả lại. Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông đề nghị Tòa án đo lại ranh đất giữa ông với ông Tùng, có trụ ranh từ trong ra ngoài, ông Tùng cấm trụ ranh bên đất ông ngang 07 tấc dài hai đầu ranh.

Tại phiên tòa,

Bà Nguyễn Thị Nhung trình bày: Bà yêu cầu Tòa án xác định diện tích của vợ chồng bà đã được cấp giấy, cấp tới đâu thì bà yêu cầu cấm móc ranh lại tới đó, cụ thể diện tích đất của bà theo đo đạc thuộc các điểm 1, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 7, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 1 của Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/01/2025 của Văn phòng đăng ký đất Chi nhánh Châu Phú. Do đó, phần diện tích ông Dương Văn Nghiệp chỉ thuộc các vị trí 1, 6, 17, 23, 2, 1 có diện tích 22m² của Bản trích đo hiện trạng khu đất trên nằm trong phần đất vợ chồng bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03442 do UBND huyện Châu Phú cấp ngày 20/6/2011. Do đó, bà xác định yêu cầu khởi kiện là yêu cầu ông Dương Văn Nghiệp trả lại cho bà phần diện tích 22m² thuộc các điểm 1, 6, 17, 23, 2, 1 của Bản trích đo hiện trạng khu đất trên nằm trong phần đất vợ chồng bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03442 do UBND huyện Châu Phú cấp ngày 20/6/2011, đối với phần diện tích đất đã bán cho bà Dung thì bà không có tranh chấp với bà Dung, trường hợp có tranh chấp thì bà khởi kiện bằng vụ kiện khác. Đối với các phần đất thuộc mương nước của Nhà nước chưa có ai được cấp giấy thì sử dụng chung, không ai tranh chấp. Về chi phi tố tụng bà tự nguyện chịu toàn bộ. Bà không tranh luận, cũng như không có ý kiến gì khác.

Ông Dương Thanh Tùng trình bày: Ông thống nhất với trình bày và yêu cầu của bà Nguyễn Thị Nhung. Ông không tranh luận, cũng như không có ý kiến gì khác.

Ông Dương Văn Nghiệp trình bày: Ông thống nhất với bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/01/2025, phần diện tích đất của bà Nhung, ông Tùng đã được cấp giấy và được thể hiện thuộc các vị trí 1, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 7, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 1 của Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/01/2025 của Văn phòng đăng ký đất Chi nhánh Châu Phú. Do đó, ông thống nhất các điểm này là phần đất của bà Nhung, ông Tùng, ông đồng ý trả lại diện tích 1, 6, 17, 23, 2, 1 có diện tích 22m² nằm trong phần đất vợ chồng ông Tùng, bà Nhung được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông đề nghị khi cơ quan có thẩm quyền thi hành án phải xuống cấm móc ranh theo các vị trí là phần đất của bà Nhung, ông Tùng đã được thể hiện tại Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/01/2025 của Văn phòng đăng ký đất Chi nhánh Châu Phú. Đối với các phần đất thuộc mương nước của Nhà nước chưa có ai được cấp giấy thì sử dụng chung, không ai tranh chấp. Ông đã đủ 60 tuổi thuộc trường hợp người cao tuổi nên đề nghị được miễn án phí theo quy định. Ông không tranh luận, cũng như không có ý kiến gì khác.

Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc Dung trình bày: Bà Nhung, ông Tùng không tranh chấp với bà nên bà không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nhung, ông Tùng. Tuy nhiên, bà thống nhất theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/01/2025 của Văn phòng đăng ký đất Chi nhánh Châu Phú, đề nghị xác định lại phần đất của bà Nhung, ông Tùng theo giấy được cấp được thể hiện theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/01/2025 của Văn phòng đăng ký đất Chi nhánh Châu Phú mà nguyên đơn, bị đơn đã trình bày. Bà không tranh luận, cũng như không có ý kiến gì khác.

Ngày 26/5/2025 ông Dương Văn Nghiệp có đơn đề nghị tạm ngừng phiên tòa để đo đạc lại.

Ngày 27/5/2025, Hội đồng xét xử quay lại thủ tục hỏi nhưng ông Dương Văn Nghiệp, bà Nguyễn Thị Kim Ngọc Dung và bà Châu Thị Dốt vắng mặt không có lý do; bà Nguyễn Thị Nhung, ông Dương Thanh Tùng không đồng ý tạm ngừng phiên tòa để đo đạc lại vì Tòa án đã đo nhiều lần, tại phiên tòa ngày 22/5/2025 thì ông Dương Văn Nghiệp và bà Nguyễn Thị Kim Ngọc Dung đã thống nhất với Bản trích đo hiện trạng khu đất cũng như thống nhất các móc ranh mà vợ chồng ông bà đã được cấp giấy, đồng thời đồng ý trả lại phần diện tích đất này cho ông bà. Ngoài ra, ông bà còn trình bày trên phần đất 7.607m² vợ chồng ông bà có cho vợ chồng cháu của bà cất nhà ở nhờ là Nguyễn Văn Sáng và Dương Thị Thu Nhi. Căn nhà của cháu ông bà không nằm ở vị trí tranh chấp với ông Dương Văn Nghiệp, bà Nguyễn Thị Kim Ngọc Dung. Do đó, đề nghị không đưa cháu ông bà vào tham gia tố tụng.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu về việc tuân theo pháp luật và quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Ông Dương Thanh Tùng, bà Nguyễn Thị Nhung thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình, các đương sự khác không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Thanh Tùng, bà Nguyễn Thị Nhung; Về chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, án phí đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Về quan hệ tranh chấp:

      Bà Nguyễn Thị Nhung, ông Dương Thanh Tùng khởi kiện cho rằng ông Dương Văn Nghiệp lấn chiếm đất và yêu cầu ông Dương Văn Nghiệp trả lại đất. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp quyền sử dụng đất quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

    2. Về thẩm quyền:

      Tranh chấp của các đương sự là quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại huyện Châu Phú nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

    3. Về người tham gia tố tụng, sự có mặt, vắng mặt của đương sự:

      Thấy rằng, mặc dù ông Nguyễn Văn Sáng và bà Dương Thị Thu Nhi đang cất nhà ở trên phần đất 7.607m² của bà Nguyễn Thị Nhung, ông Dương Thanh Tùng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, phần diện tích nhà của ông Nguyễn Văn Sáng và bà Dương Thị Thu Nhi không nằm trong phần đất tranh chấp với ông Dương Văn Nghiệp, bà Nguyễn Thị Kim Ngọc Dung, bà Châu Thị Dốt. Bên cạnh đó, ông Nguyễn Văn Sáng và bà Dương Thị Thu Nhi có bản tự khai ngày 29/5/2025 yêu cầu Tòa án không đưa ông bà vào tham gia tố tụng vì việc tranh chấp không liên quan đến ông bà. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc giải quyết vụ án không ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Nguyễn Văn Sáng, bà Dương Thị Thu Nhi nên không cần thiết đưa ông bà vào tham gia tố tụng là phù hợp.

      Phiên tòa ngày 22/5/2025: Bà Nguyễn Thị Nhung, ông Dương Thanh Tùng, ông Dương Văn Nghiệp, bà Nguyễn Thị Kim Ngọc Dung có mặt tại phiên tòa; bà Châu Thị Dốt vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do.

      Ngày 27/5/2025 Hội đồng xét xử quay lại thủ tục hỏi: Bà Nguyễn Thị Nhung, ông Dương Thanh Tùng có mặt; ông Dương Văn Nghiệp, bà Nguyễn Thị Kim Ngọc Dung, bà Châu Thị Dốt vắng mặt không rõ lý do.

      Ngày 02/6/2025, Hội đồng xét xử tuyên án bà Nguyễn Thị Nhung, ông Dương Thanh Tùng có mặt; ông Dương Văn Nghiệp, bà Nguyễn Thị Kim Ngọc Dung, bà Châu Thị Dốt vắng mặt không rõ lý do.

      Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án, tuyên án là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  2. Về nội dung:
    1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

      Thấy rằng, diện tích đất của ông Tùng, bà Nhung được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03442 do UBND huyện Châu Phú cấp ngày 20/6/2011, đo đạc thực tế phần đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Tùng, bà Nhung gồm các điểm 1, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 7, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 1 của Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 08/4/2023 của Văn phòng đăng ký đất Chi nhánh Châu Phú. Tuy nhiên, phần diện tích thuộc các điểm 1, 6, 17, 23, 2, 1 nằm trong các vị trí 1, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 7, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 1 của Bản trích đo hiện trạng khu đất trên không thể hiện diện tích. Do đó, ngày 07/01/2025 Văn phòng đăng ký đất Chi nhánh Châu Phú đã bổ sung diện tích của các vị trí này là 22m². Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu ông Dương Văn Nghiệp trả lại phần diện tích đất 22m² thuộc các điểm 1, 6, 17, 23, 2, 1 của Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/01/2025 của Văn phòng đăng ký đất Chi nhánh Châu Phú. Ông Dương Văn Nghiệp và bà Nguyễn Thị Kim Ngọc Dung thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Châu Thị Dốt vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, quá trình chuẩn bị xét xử không có văn bản trình bày ý kiến.

      Tuy nhiên, ngày 26/5/2025 ông Nghiệp có văn bản không đồng ý với bản trích đo, đề nghị Tòa án đo đạc lại. Thấy rằng, việc đo đạc có sự chứng kiến và chỉ dẫn của ông Dương Văn Nghiệp, cơ quan chuyên môn thực hiện đo đạc phục hồi móc ranh đều theo chỉ dẫn của các bên trong đó có ông Nghiệp, việc thực hiện đo đạc, thực hiện phục hồi móc ranh không có dấu hiệu vi phạm thủ tục tố tụng. Ông Nghiệp cũng không cung cấp được chứng cứ, chứng minh cơ quan có thẩm quyền đo đạc vi phạm thủ tục đo đạc, cho kết quả không khách quan. Mặt khác, việc đo đạc đã thực hiện nhiều lần đều có sự chứng kiến và chỉ dẫn của ông Nghiệp. Do đó, không có cơ sở để thực hiện tạm ngừng phiên tòa để đo đạc lại theo yêu cầu của ông Dương Văn Nghiệp.

      Từ những phần tích trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Dương Văn Nghiệp trả lại diện tích 22m² thuộc các điểm 1, 6, 17, 2, 1 của Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/01/2025 của Văn phòng đăng ký đất Chi nhánh Châu Phú.

    2. Xét về chi phí tố tụng:

      Thấy rằng, quá trình chuẩn bị xét xử có phát sinh chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.500.000 đồng; đo đạc tài sản tranh chấp lần 01 theo hóa đơn giá trị gia tăng ngày 01/3/2019 với số tiền là 1.846.900 đồng, lần 02 theo hóa đơn giá trị gia tăng ngày 26/7/2022 là 2.520.720 đồng, lần 03 theo hóa đơn giá trị gia tăng ngày 04/10/2023 là 7.534.512 đồng; tiền trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 60.000 đồng. Tổng cộng chi phí tố tụng là 13.462.132 đồng. Tại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của nguyên đơn. Quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng nên không không phải nộp thêm.

    3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

      Thấy rằng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Dương Văn Nghiệp phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, ông đã đủ 60 tuổi và có đề nghị miễn án phí tại phiên tòa nên ông được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định. Ông Dương Thanh Tùng, bà Nguyễn Thị Nhung được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí cho ông Dương Thanh Tùng và bà Nguyễn Thị Nhung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 74; Điều 157; Điều 165; Điều 227; Điều 228; Điều 267; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điểm a, khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 26; khoản 5 Điều 166 Luật Đất đai 2013;
  • - Điều 163, Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015;
  • - Điều 12; Điều 14; khoản 1, 2, 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Nhung và ông Dương Thanh Tùng.
  2. Buộc ông Dương Văn Nghiệp trả lại cho bà Dương Thị Nhung và ông Dương Thanh Tùng diện tích đất 22m² thuộc các điểm 1, 6, 17, 23, 2, 1 của Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/01/2025 của Văn phòng đăng ký đất Chi nhánh Châu Phú.

    (Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 07/01/2025 của Văn phòng đăng ký đất Chi nhánh Châu Phú là một phần của Bản án, không thể tách rời Bản án)

  3. Về chi phí tố tụng:
  4. Bà Nguyễn Thị Nhung và ông Dương Thanh Tùng chịu chi phí tố tụng là 13.462.132đ (Mười ba triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn một trăm ba mươi hai đồng). Bà Nguyễn Thị Nhung và ông Dương Thanh Tùng đã nộp đủ, không phải nộp thêm.

  5. Về án phí:
  6. Ông Dương Văn Nghiệp được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

    Trả lại cho Bà Nguyễn Thị Nhung và ông Dương Thanh Tùng 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0016969 ngày 22/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
  8. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND H.Châu Phú;
  • - TAND T.An Giang;
  • - CCTHADS H.Châu Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Võ Văn Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2025/DS-ST ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 157/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger