Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: /2024/HS-ST

Ngày: 17-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Đoan Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Kim Dung

Bà Bùi Thị Thu Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2024/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Quang B, sinh ngày 29 tháng 11 năm 1977 tại Phú Thọ; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ B, khu P, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Quang B1 và bà Phùng Thị Mai H; có vợ là Lê Thị Hồng H1 (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 220/2012/HSST ngày 23/8/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Bùi Quang B 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/01/2014, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 01/11/2012.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/4/2024 đến nay tại Trại tạm giam công an tỉnh V (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 ngày 04/4/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Bùi Quang B đi xe khách từ nhà đến thành phố V để tìm mua ma túy. Khoảng 09 giờ 30 cùng ngày, B xuống xe tại khu vực ngã tư Quán T, đường H, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây B gặp một người nam giới (B không biết nhân thân, lai lịch của người nam giới này). Qua nói chuyện, B biết người này bán ma tuý nên B hỏi và mua được 01 gói ma tuý với giá 250.000đ. Sau khi mua được ma túy, B cất gói ma túy vào trong bao thuốc lá và đút vào túi quần bên phải đang mặc, đi tìm nơi vắng người để sử dụng ma túy. Khi B đi bộ đến ngõ D, đường H, phường H thì bị Tổ công tác của Công an thành phố V kiểm tra hành chính phát hiện và thu giữ gói chất bột màu trắng, niêm phong theo quy định của pháp luật ký hiệu A1, ngoài ra không thu giữ gì khác.

Cùng ngày 04/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với B, đồng thời ra Quyết định trưng cầu giám định chất bộ màu trắng trên. Tại bản Kết luận giám định số 890/KL-GĐ ngày 08/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: Chất cục, bột màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2642 g (Không phảy hai sáu bốn hai gam, không kể bao bì), loại Heroine. H2 lại mẫu vật còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1= 0,2040 gam mẫu và toàn bộ bao gói, được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “Mẫu trả vụ 860”, trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh V.

Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ, quá trình điều tra, Bùi Quang B khai nhận: Tại khu vực ngã tư Quán T, đường H, phường H, thành phố V, B gặp một người nam giới ( không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ của người này). Qua nói chuyện, B biết người này bán ma tuý nên hỏi và mua được 01 gói ma túy loại Heroine với giá 250.000₫.

Tại bản Cáo trạng số: 95/CT-VKSTP.VY ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Bùi Quang B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Quang B từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp

[2]. Tại phiên tòa hôm nay, Bùi Quang B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập khách quan, đúng pháp luật, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 04/4/2024, tại khu vực Ngõ D, đường H, Tổ dân phố Q, phường H, thành phố V, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố V phối hợp cùng Công an phường H làm nhiệm vụ trên địa bàn phát hiện Bùi Quang B có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng cho bản thân. Thu giữ của B 01 gói giấy nhỏ bên trong có chứa chất cục bột màu trắng, qua giám định xác định là ma túy có khối lượng 0,2642g, loại Heroine.

Hành vi của Bùi Quang B đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.

[3]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Ma tuý là mối hiểm hoạ cho mỗi gia đình và toàn xã hội, làm huỷ hoại sức khoẻ, suy giảm giống nòi, gây suy thoái đạo đức, lối sống, nhân phẩm của con người. Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật, giết người...Do vậy, cần phải xử phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo mới tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội.

[4]. Xét nhân thân cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức được hành vi của mình là phạm pháp song do lối sống buông thả, ý thức chấp hành pháp luật kém nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học sửa đổi, hoàn lương mà tiếp tục đi vào con đường phạm tội, ngày càng nghiêm trọng. Do vậy cần xử phạt thật nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng cho bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo để giảm nhẹ một phần hình phạt giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Trong vụ án này còn có đối tượng bán ma túy cho Bùi Quang B, quá trình điều tra xác định: Đây là 01 người đàn ông có đặc điểm khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1m60, tóc cắt ngắn. B không biết người này là ai, có nhân thân, lai lịch như thế nào. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an phường H, thành phố V như lời khai của B nhưng chưa xác định được người nam giới này là ai. Ngoài lời khai của B, không có chứng cứ nào khác để xác định chính xác người nam giới đã bán ma tuý cho B ngày 04/4/2024. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 250.000₫ B sử dụng để mua ma túy, quá trình điều tra xác định đây là tiền do B lao động hợp pháp mà có. Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT không thu giữ được số tiền trên.

Đối với mẫu vật được hoàn lại sau giám định A1= 0,2040g ma tuý loại Heroine cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong 01 bao gói giấy “Mẫu trả vụ 860” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh V hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu huỷ.

[8]. Về án phí: Bị cáo Bùi Quang B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Quang B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Quang B 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 04/4/2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật được hoàn lại sau giám định A1= 0,2040g ma tuý loại Heroine cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong 01 bao gói giấy “Mẫu trả vụ 860” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh V hoàn lại sau giám định. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 16/7/2024 của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố V và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên).

Bị cáo Bùi Quang B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND thành phố Vĩnh Yên;
  • - CA thành phố Vĩnh Yên;
  • - THADS thành phố Vĩnh Yên;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; văn phòng

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thị Đoan Trang

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Văn Dũng

Phùng Đình Bàn

Bùi Thị Đoan Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số /2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: /2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger