Hệ thống pháp luật

TAND TỈNH BÌNH PHƯỚC

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/HS-ST Ngày: 05-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Sỹ Trinh và ông Đỗ Văn Kha

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Thuỷ Hằng - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 136/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Hoàng N; tên gọi khác: Không; sinh năm 2003, tại: Bình Phước; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Trần Quang V, sinh năm: 1972 và bà: Hoàng Thị Minh T, sinh năm: 1981; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/06/2024 đến nay.

2. Họ và tên: Vũ Hoàng L, tên gọi khác: (B); sinh năm 1998, tại: Bình Phước; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông: Vũ Xuân L1, sinh năm: 1965 và bà: Hồ Thị Khánh L2, sinh năm: 1970; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/06/2024 đến nay.

3. Họ và tên: Võ Minh H, tên gọi khác: Không; sinh năm 2002, tại: Bình Phước; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: Võ Văn T1, sinh năm: 1972 và bà: Nguyễn Thị D,

2

sinh năm: 1970; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/06/2024 đến nay.

4. Họ và tên: Nguyễn Thành L3, tên gọi khác: Không; sinh năm 2003, tại: Bình Phước; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 10/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông: Nguyễn Thanh H1, sinh năm: 1974 và bà: Đặng Thị H2, sinh năm: 1978; Vợ con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/06/2024 đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên toà

- Người làm chứng:

  • + Đặng Chí P, sinh năm 1999; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
  • + Nguyễn Thế M, sinh năm 1998; Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
  • + Hoàng Thị Ngọc A, sinh năm 2003; Nơi cư trú: ấp F, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
  • + Nguyễn Văn L4, sinh năm 1985; Nơi cư trú: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.
  • + Lê Thành V1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.

- Người chứng kiến: Nguyễn Duy T2, sinh năm 1964; Nơi cư trú: khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 28/06/2024, Trần Hoàng N cùng Nguyễn Thành L3, Vũ Hoàng L, Đặng Chí P, Võ Minh H và một số người bạn của L3 nhậu ở quán “Ố" thuộc phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, lúc này N rủ L, L3, H và P đi vào quán bar H3 để nghe nhạc thì tất cả đồng ý. H điều khiển xe mô tô biển số 93M1-32.776 chở N, L điều khiển xe mô tô biển số 93P2–502.03 chở L3, trên đường đi N gọi điện thoại cho Lê Thành V1 quản lý quán bar H3 đặt bàn VIP 8. Khi tới quán L3 và H vào bàn trước còn N và L đứng ngoài nói chuyện. Lúc này N nói với L mua “nửa hộp năm” ma tuý khay để mọi người cùng sử dụng, tiền mua ma tuý L và N chia đôi thì L đồng ý. Sau đó, N đi bộ ra bãi đất trống trước quán bar H3 thì gặp người đàn ông tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch), qua nói chuyện thì biết Đ có ma tuý khay bán nên N hỏi mua “nửa hộp năm” ma túy K, Đ nói giá 2.000.000 đồng, N nói trả tiền sau thì Đ đồng ý. Đ lấy 01 bọc nylon chứa ma túy khay đưa

3

cho N rồi Đ bỏ đi. Lúc này, có Đặng Chí P chở Nguyễn Thế M đến quán bar H3 chơi và vào bàn Vip 8 ngồi cùng H và L3.

Sau khi mua được ma túy N đi vào quán bar H3 thì gặp L đang đi vào, đến cửa quán baH3 thì N đưa bọc nylon ma túy khay cho L để L mang vào quán bar HV xào ma tuý cho mọi người trong bàn sử dụng. Vào bàn Vip 8 thì lúc này có H, L3, P, M đang ngồi chơi, L lấy bọc nylon chứa ma túy đổ một ít ma túy cho vào tờ tiền giấy mệnh giá 5.000 đồng của L dùng quẹt gas hơ nóng ma túy rồi đổ ma túy lên đáy lon bia Tiger úp ngược, H lấy đoạn ống hút nhựa màu trắng dùng quẹt gas hàn kín một đầu đưa cho N để xúc ma túy, N cầm đoạn ống hút bỏ trên bàn Vip 8 xúc ma túy đổ lên tay của L3 để L3 sử dụng, L tiếp tục xúc ma túy cho H, P, M và tự xúc ma túy cho mình rồi L, N, H, L3, P, M cùng nhau sử dụng ma tuý. Đoạn ống hút xúc ma tuý bị ướt nên L đưa cho L3 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng nói L3 quấn thành ống để xúc ma tuý thì L3 cầm tờ tiền rồi cuộn tròn lại dùng vỏ đầu lọc thuốc lá quấn bên ngoài để trên mặt bàn để mọi người lấy xúc ma tuý lên để sử dụng, L xúc ma túy đổ lên tay phải cho N để N sử dụng, Long xúc ma túy đổ lên tay Mỹ để Mỹ sử dụng. Hoàng Thị Ngọc A ở bàn VIP 3 đến bàn VIP 8 chơi, L3 đưa lon bia Tiger chứa ma túy cho Ngọc A dùng ống hút bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đồng xúc ma túy để Ngọc A sử dụng rồi Ngọc A quay lại bàn Vip 3. Khi sử dụng hết số ma tuý trên bàn L tiếp tục lấy bọc ma tuý khay còn lại ra và nói H đưa tờ tiền giấy để xào ma tuý cho mọi người sử dụng tiếp thì H đưa cho L 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng cho L, để L đổ hết ma tuý còn lại trong bọc nylon ra tờ tiền 5.000đồng xào ma tuý, đổ lên đáy lon bia T3 úp ngược, rồi dùng tờ tiền 10.000 đồng cuốn tròn và xúc cho N, L3, H, P, M sử dụng.

Đến 00 giờ 40 phút ngày 29/06/2024 Lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh B phối hợp với Công an thành phố Đ và Công an phường T tiến hành kiểm tra hành chính tại quán Bar H3 thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Tại bàn VIP 8 của quán bar H3 có Trần Hoàng N, Vũ Hoàng L, Võ Minh H, Nguyễn Thành L3, Nguyễn Thế M; Đặng Chí P phát hiện trên mặt bàn có 01 lon bia Tiger úp ngược, dưới đáy lon có chất bột màu trắng, Trần Hoàng N, Vũ Hoàng L, Võ Minh H và Nguyễn Thành L3 cùng khai nhận chất bột màu trắng là ma túy dạng khay nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Hoàng N, Vũ Hoàng L, Võ Minh H, Nguyễn Thành L3 và thu giữ tang vật.

* Bản kết luận giám định số 701/KL - KTHS ngày 04/07/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Chất bột màu trắng ký hiệu M1 có trong 01 gói giấy được niêm phong gửi giám định là ma túy loại Ketamine, có khối lượng 0,1201 gam (Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 40, Nghị dịnh 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

* Bản cáo trạng số 152/CT-VKS ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Trần Hoàng N, Vũ

4

Hoàng L, Nguyễn Thành L3, Võ Minh H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điều luật và mức hình phạt như sau:

  • - Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Trần Hoàng N mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
  • - Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị: xử phạt Vũ Hoàng L mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; Nguyễn Thành L3 mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; Võ Minh H mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng do các bị cáo đang bị tạm giam.
  • - Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
    • Tịch thu tiêu hủy 01 lon bia hiệu Tiger, 01 đoạn ống hút màu trắng, 01 hột quẹt gas màu vàng, 01 bọc nylon miệng kéo dính, bên trong không có gì;
    • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng gấp lại, bên trong không có gì, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng được cuốn tròn, bên ngoài có 01 vỏ đầu lọc thuốc lá và 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng, đã qua sử dụng của Trần Hoàng N;
    • Trả lại cho các bị cáo:
      • + Vũ Hoàng L 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 xe môtô hiệu Honda SH, biển số: 93P2-502.03 và giấy đăng ký xe số 096471.
      • + Võ Minh H 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter, biển số: 93M1-327.76 và giấy đăng ký xe số 93 000580.
      • + Nguyễn Thành L3 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xám, đã qua sử dụng, bị bể mặt trước và sau.
  • * Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

5

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Các bị cáo Trần Hoàng N, Vũ Hoàng L, Nguyễn Thành L3, Võ Minh H tại phiên tòa khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

[3] Đối chiếu lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng vụ án; Lời khai của những người làm chứng; Kết luận giám định số 701/KL - KTHS ngày 04/07/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B xác định là ma túy loại Ketamine, có khối lượng là 0,1201 gam; Phù hợp về thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 28/06/2024, Trần Hoàng N rủ Vũ Hoàng L, Nguyễn Thành L3, Võ Minh H và Đặng Chí P đi vào quán bar H3 tại khu phố P, phường T, thành phố Đ để nghe nhạc thì tất cả đồng ý, P chở thêm Nguyễn Thế M cùng đi. Trên đường đi N gọi điện thoại cho Lê Thành V1 quản lý quán bar H3 đặt bàn VIP 8, đến tới quán N và L bàn nhau thỏa thuận góp tiền mua 2.000.000 đồng ma túy khay cho cả nhóm cùng sử dụng. N trực tiếp đi mua ma túy của người đàn ông tên Đ về đưa cho L; L lấy ma tuý đổ một ít vào tờ tiền 5.000 đồng hơ nóng và đổ vào đáy lon bia úp ngược; H lấy ống hút hơ nóng bịt kín một đầu đưa cho N xúc ma tuý cho mọi người sử dụng; L3 dùng tờ tiền 10.000 đồng cuộn lại để xúc ma tuý đổ lên tay Mỹ. Ngoài ra còn có Hoàng Thị Ngọc A ở bàn Vip 3 qua bàn Vip 8 chơi thì L3 đưa lon bia đựng ma tuý cho A dùng ống hút bằng tờ tiền 10.000 đồng xúc ma tuý sử dụng. Khi sử dụng hết số ma tuý, L tiếp tục đổ số ma tuý còn lại lên tờ tiền 5.000 đồng do H đưa để xào nóng đổ lên đáy lon bia úp ngược và xúc cho mọi người sử dụng. Đến 00 giờ 40 phút ngày 29/06/2024, khi cả nhóm đang sử dụng ma túy thì lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt người phạm tội quả tang thu giữ 0,1201 gam ma túy loại Ketamine.

Hành vi của Trần Hoàng N, Vũ Hoàng L, Nguyễn Thành L3, Võ Minh H thực hiện cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

[4] Xét về lỗi, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đều là người đã thành nên, có đủ năng lực nhận thức và điều khiển được hành vi của mình; hoàn toàn nhận thức được rằng ma túy là chất độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý và cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép. Nhưng để

6

thỏa mãn nhu cầu của bản thân, các bị cáo cố tình thực hiện, đưa chất ma túy vào cơ thể mình và những người khác, đây được xem là hành vi vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội.

[5] Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, nên cần xác định vai trò của các bị cáo để có cơ sở cá thể hóa hình phạt:

  • Đối với Trần Hoàng N, ngay khi nhậu xong tại quán “Ốc đảo” đã nảy sinh ý định mua ma tuý về cùng nhau sử dụng; bị cáo rủ các bị cáo đến quán bar H3 để nghe nhạc, gọi điện thoại đặt bàn Vip 8 của quán HV, khi đến nơi bị cáo bàn bạc thoả thuận với Vũ Hoàng L mua ma tuý khay và trực tiếp đi mua của đối tượng tên Đ 2.000.000 đồng mang về đưa cho L cho cả nhóm sử dụng. Bị cáo vừa là người khởi xướng vừa là người thực hành tích cực nhất, trong quá trình sử dụng ma tuý, bị cáo lấy ống hút xúc ma tuý đổ lên tay cho L3, H, P, M và cùng sử dụng với cả nhóm.
  • Đối với Vũ Hoàng L: Là đồng phạm tích cực, thống nhất thoả thuận chung tiền với N mua ma tuý cho nhóm sử dụng; chuẩn bị công cụ sử dụng và trực tiếp cầm ma tuý đổ lên tờ tiền làm nóng; đổ lên đáy lon bia úp ngược cho mọi người sử dụng; bị cáo còn xúc ma tuý đổ lên tay N, L3, H, P, M và cùng nhau sử dụng.
  • Đối với Nguyễn Thành L3: Là đồng phạm cùng thực hành, bị cáo chuẩn bị công cụ là dùng tờ tiền 10.000 đồng cuộn lại để cho cả nhóm xúc ma tuý sử dụng; Long xúc ma tuý đổ lên tay Mỹ cho M sử dụng; Ngọc A là bạn của L3 từ bàn Vip 3 sang bàn Vip 8 chơi thì L3 đưa lon bia úp ngược đựng ma tuý cho A sử dụng.
  • Đối với Võ Minh H: Là người đồng thực hành, chuẩn bị công cụ là ống hút hơ nóng bịt kín đầu đưa cho N để xúc ma tuý; hỗ trợ L lấy tờ tiền 5.000 đồng của mình đưa cho L để hơ nóng ma tuý cho cả nhóm cùng sử dụng.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố các bị cáo Trần Hoàng N, Vũ Hoàng L, Nguyễn Thành L3, Võ Minh H với tình tiết định khung tăng nặng “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[6] Hành vi các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng và sự phát triển lành mạnh của chính các bị cáo cũng như của công dân, vì vậy cần thiết phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với hậu quả gây ra.

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo N, L, H, L3 có thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo N đã thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an

7

nhân dân và gia đình có ông nội là người công với cách mạng nên được Hội đồng xét xem xét áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đang bị giam giữ nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

[7] Đối với các đối tượng khác:

  • - Đối tượng tên Đ bán ma túy cho Trần Hoàng N, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch, chưa làm việc được nên chưa có căn cứ để xử lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
  • - Đặng Chí P, Nguyễn Thế M là người được các bị cáo Trần Hoàng N và Vũ Hoàng L cho sử dụng ma túy; P, M là đối tượng nghiện ma túy nên đã bị Công an thành phố Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người 1.500.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.
  • - Hoàng Thị Ngọc A được Nguyễn Thành L3 cho sử dụng ma túy và L3 không thu lợi ích gì, Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Hoàng Thị Ngọc A số tiền 1.500.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.
  • - Nguyễn Văn L4 là Chủ quán ba HV, Lê Thành V1 là quản lý quán ba HV cho Trần Hoàng N thuê bàn Vip 8, không biết N sử dụng bàn để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không đặt ra vấn đề xử lý.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Vật chứng vụ án:

  • - 01 lon bia hiệu Tiger; 01 đoạn ống hút màu trắng; 01 hột quẹt gas màu vàng; 01 bọc nylon miệng kéo dính, bên trong không có gì là công cụ các bị cáo dùng để sử dụng ma tuý, không còn giá trị sử dụng, tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng gấp lại, bên trong không có gì; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng được cuốn tròn, bên ngoài có 01 vỏ đầu lọc thuốc lá là công cụ các bị cáo dùng để sử dụng ma tuý nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - ½ tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng giao cho Ngân hàng N1- Chi nhánh tỉnh B xử lý theo quy định.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng, đã qua sử dụng của Trần Hoàng N sử dụng vào việc phạm tội tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh, đã qua sử dụng của Vũ Hoàng L; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh, đã qua sử dụng của Võ Minh H;

8

01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xám, đã qua sử dụng, bị bề mặt trước và sau của Nguyễn Thành L3; 01 xe môtô hiệu Honda SH, biển số: 93P2-502.03 và giấy đăng ký xe của Vũ Hoàng L; 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter, biển số: 93M1-327.76 và giấy đăng ký xe của Võ Minh H là tài sản riêng của các bị cáo, không liên quan đến vụ án, trả lại cho các bị cáo.

[10] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Trần Hoàng N, Vũ Hoàng L (B1), Nguyễn Thành L3, Võ Minh H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt Trần Hoàng N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/06/2024.

  3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt Vũ Hoàng L (Bin) 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/06/2024.

    Xử phạt Nguyễn Thành L3 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/06/2024.

    Xử phạt Võ Minh H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/06/2024.

  4. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 lon bia hiệu Tiger; 01 đoạn ống hút màu trắng; 01 hột quẹt gas màu vàng; 01 bọc nylon miệng kéo dính, bên trong không có gì.
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng gấp lại, bên trong không có gì; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng được cuốn tròn, bên ngoài có 01 vỏ đầu lọc thuốc lá và 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng, đã qua sử dụng của Trần Hoàng N.
    • - Giao cho Ngân hàng N1 - Chi nhánh tỉnh B xử lý theo quy định ½ tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng.
    • - Trả lại cho các bị cáo:
      • + Vũ Hoàng L 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 xe môtô hiệu Honda SH, biển số: 93P2-502.03 và giấy đăng ký xe số 096471.

9

    • + Võ Minh H 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter, biển số: 93M1-327.76 và giấy đăng ký xe số 93 000580.
    • + Nguyễn Thành L3 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xám, đã qua sử dụng, bị bể mặt trước và sau.

    (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 000 2329, quyển số 0047, ngày 30/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài).

  1. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

    Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  2. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh BP;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước.
  • - VKSND TP. Đồng Xoài;
  • - CA Thành phố Đồng Xoài;
  • - CC THADS TP. Đồng Xoài;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS-VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thu Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 157/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger