TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 157/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 05-12-2024.
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
-
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Kim Sang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Văn Hết
- 2. Bà Trần Thị Sẩm
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Nhật Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lanh – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 407/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 541/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Kim Q, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số G, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre, có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 25/11/2024.
- Bị đơn: Anh Trần Minh C, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre, vắng mặt không lý do lần thứ 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2024, bản tự khai và các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chị Trần Kim Q trình bày:
Về hôn nhân: Trên cơ sở tự tìm hiểu, quen biết nhau trước, chị và anh Trần Minh C tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre, vào ngày 28/6/2012. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì bắt đầu mất hạnh phúc. Nguyên nhân mất hạnh phúc là do anh chị xảy ra mâu thuẫn, anh C không lo cho vợ con, anh chị không hợp nhau về mọi mặt, nhất là trong các mối quan hệ xã hội dẫn đến thường hay cự cãi nhau, bất hòa làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách.
Anh chị chính thức sống ly thân khoảng 04 tháng nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh C do không còn tình cảm.
Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống, anh chị có 02 con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 23/3/2014 và Trần Huy H, sinh ngày 13/10/2019, hiện đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi hai con chung và yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 2.500.000 đồng/01 cháu cho đến khi cháu H, cháu Ngọc T 18 tuổi.
Về chia tài sản: Trong thời gian chung sống, anh chị không có tài sản chung và không có nợ ai.
Bị đơn anh Trần Minh C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến trình bày của anh C.
Tại Biên bản lấy ý kiến đề ngày 11/11/2024, cháu Trần Kim N trình bày như sau:
Nếu cha và mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ và em trai tên Trần Huy H, sinh ngày 13/10/2019.
Tại Biên bản xác minh đề ngày 08/11/2024, ông Lê Văn L - Trưởng ấp T, xã H có ý kiến như sau:
Anh Trần Minh C và chị Trần Kim Q có tổ chức lễ cưới theo phong tục tại địa phương. Đám cưới xong, anh C đi làm thuê, thỉnh thoảng có về địa phương. Trong thời gia chung sống tại ấp T, xã H, chị Q và anh C không có nhờ ấp giải quyết các vấn đề phát sinh trong cuộc sống hôn nhân nên địa phương không nắm rõ nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc chị Q nộp đơn ly với anh C.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- - Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký là đảm bảo đúng pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đảm bảo đúng quy định pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Kim Q. Chị Trần Kim Q được ly hôn với anh Trần Minh C; Về nuôi con chung: Sau khi ly hôn, chị Q được tiếp tục trực tiếp nuôi hai con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 23/3/2014 và Trần Huy H, sinh ngày 13/10/2019; Anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng/01 cháu cho đến khi cháu N, cháu Hoàng T1 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng: Tính từ tháng 12/2024 cho đến khi cháu N, cháu Hoàng T1 18 tuổi. Hình thức cấp dưỡng: Mỗi tháng cấp 01 lần; Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết; Về án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí cấp dưỡng: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam nhận định:
[1] Về tố tụng: Đối với nguyên đơn chị Trần Kim Q có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 25/11/2024 nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Q là phù hợp. Đối với bị đơn anh Trần Minh C mặc dù đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do lần thứ hai nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh C là phù hợp.
[2] Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Trần Kim Q và anh Trần Minh C là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 thì bắt đầu mất hạnh phúc. Theo chị Quy trình B nguyên nhân mất hạnh phúc là do anh chị xảy ra mâu thuẫn, anh C không lo cho vợ con, anh chị không hợp nhau về mọi mặt, nhất là trong các mối quan hệ xã hội dẫn đến thường hay cự cãi nhau, bất hòa làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Anh chị chính thức sống ly thân khoảng 04 tháng nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh C. Anh C vắng mặt trong suốt quá trình Tòa giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nên không có lời trình bày.
Xét thấy, chị Q và anh C kết hôn trên cơ sở tự tìm hiểu quen biết nhau trước và cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân. Sau khi kết hôn, anh chị đã có thời gian sống hạnh phúc và có với nhau hai con chung nhưng chỉ vì những mâu thuẫn trong cuộc sống mà anh chị sống bỏ mặc, không quan tâm nhau, không tìm giải pháp để giải quyết và quyết định sống ly thân. Ngoài ra, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho anh C đến Tòa để tham gia hòa giải nhằm tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn nhưng anh C vẫn vắng mặt không lý do chứng minh anh không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ. Nay chị Q cương quyết được ly hôn với anh C do không còn tình cảm. Điều đó chứng tỏ rằng cuộc sống hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q là phù hợp.
[3] Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống, anh chị có 02 con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 23/3/2014 và Trần Huy H, sinh ngày 13/10/2019, hiện đang sống với chị Q. Sau khi ly hôn, chị Q yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi hai con chung và yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 2.500.000 đồng/01 cháu cho đến khi cháu H, cháu Ngọc T 18 tuổi. Anh C đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án tuy nhiên anh không có ý kiến hay yêu cầu, tranh chấp gì. Tại biên bản lấy ý kiến đề ngày 11/11/2024, cháu N có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ.
Xét thấy, cháu N và cháu H hiện đang sống với chị Q và chị Q có đủ điều kiện đảm bảo trực tiếp nuôi con nên nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất, tinh thần và tâm sinh lý của cháu N và cháu H cần giao cháu N và cháu H
cho chị Q tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật và nguyện vọng của cháu N. Đối với yêu cầu cấp dưỡng, chị Q yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi cháu N và cháu H mỗi tháng 2.500.000 đồng/01 cháu cho đến khi cháu N và cháu Hoàng T1 18 tuổi. Xét thấy, đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo qui định của pháp luật thì sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chưa thành niên, việc cấp dưỡng nuôi con đồng thời là quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con đối với con chưa thành niên. Nên để nhằm đảm bảo quyền lợi cho cháu N và cháu H cần chấp nhận yêu cầu của chị Q buộc anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N và cháu H. Tuy nhiên, mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng theo mức sống trung bình tại địa phương. Ngoài ra, theo quy định pháp luật mức cấp dưỡng nuôi con là không được thấp hơn ½ mức lương tối thiểu. Biết rằng mức lương tối thiểu theo vùng tại địa bàn huyện M, tỉnh Bến Tre do Chính phủ qui định tại thời điểm xét xử là 3.860.000 đồng. Anh C đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng anh không có ý kiến phản đối với yêu cầu này của chị Q. Tuy nhiên, mức cấp dưỡng theo yêu cầu của chị Q là có phần còn cao, chưa hoàn toàn phù hợp. Vì vậy, buộc anh C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N và cháu H mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu N và cháu Hoàng T1 18 tuổi là phù hợp luật định, đảm bảo đủ điều kiện vật chất cho sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần của cháu H1, đồng thời cũng nâng cao quyền và nghĩa vụ đối với con chung của người không trực tiếp nuôi con.
[4] Về chia tài sản: Theo chị Quy trình B là trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung và không có nợ ai, anh C đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án tuy nhiên anh không có ý kiến hay yêu cầu, tranh chấp gì. Do đó, không có căn cứ để xác định anh chị có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[5] Về án phí: Chị Trần Kim Q phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và anh Trần Minh C phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[6] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày N1 là phù hợp hoàn toàn với nhận định của Tòa nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Kim Q.
Chị Trần Kim Q được ly hôn với anh Trần Minh C.
- Về nuôi con chung: Sau khi ly hôn, chị Trần Kim Q được tiếp tục trực tiếp nuôi hai con chung tên Trần Kim N, sinh ngày 23/3/2014 và Trần Huy H, sinh ngày 13/10/2019; Anh Trần Minh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N, cháu H mỗi tháng 2.000.000 đồng/01 cháu. Thời hạn cấp dưỡng: Tính từ tháng 12/2024 cho đến khi cháu N, cháu Hoàng T1 18 tuổi. Hình thức cấp dưỡng: Mỗi tháng cấp 01 lần.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con chung chưa thành niên, theo yêu cầu của chị Q, anh C, Toà án có thể thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về chia tài sản: Trong thời gian chung sống, anh chị không có tài sản chung và không có nợ ai nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
- Chị Trần Kim Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Q đã nộp theo biên lai thu số 0003722 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam nên không phải nộp thêm.
- Anh Trần Minh C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Kim Sang |
Bản án số 157/2024/HNGĐ - ST ngày 05/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 157/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
