Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BÌNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14-11-2024

V/v tranh chấp ly hôn

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Xuân Nữ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Quang Vinh;
  2. Ông Phạm Văn Liệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 326/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Tô Thị P, sinh năm 1971.
  2. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Bị đơn: Anh Phan Chí H, sinh năm 1974.
  4. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Tô Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Chị Tô Thị P và anh Phan Chí H kết hôn vào năm 1992, nhưng không có đăng ký kết hôn. Hôn nhân giữa anh chị được xây dựng trên cơ sở mai mối.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến tháng 3/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cãi. Cả hai đã cố gắng tìm cách khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Từ đó khiến cho tình cảm giữa anh chị trở nên phai nhạt, hôn nhân không còn hạnh phúc.

Nay chị P yêu cầu ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị P và anh H có 02 con chung tên Phan Thị N, sinh ngày 27/4/1994 và Phan Chí N1, sinh ngày 14/12/2003. Hiện nay, 02 con chung đều đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình tố tụng, bị đơn anh Phan Chí H trình bày:

Về hôn nhân: Anh Phan Chí H và chị Tô Thị P kết hôn năm 1992, nhưng không có đăng ký kết hôn. Hôn nhân giữa anh chị được xây dựng trên cơ sở mai mối.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến tháng 3/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cãi. Anh chị đã tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh H đồng ý ly hôn với chị P.

Về con chung: Anh H và chị P có 02 con chung tên Phan Thị N, sinh ngày 27/4/1994 và Phan Chí N1, sinh ngày 14/12/2003. Hiện nay, 02 con chung đều đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị P và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn. Bị đơn anh Phan Chí H có địa chỉ tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị P và anh H được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa, anh chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị P và anh H theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Tô Thị P và anh Phan Chí H chung sống với nhau từ năm 1992, nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu anh chị chung sống có hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Chị P yêu cầu ly hôn với anh H vì cho rằng vợ chồng không còn tình cảm, anh H đồng ý ly hôn với chị P.

Hội đồng xét xử xét thấy, chị P và anh H có nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau, thường xuyên cự cãi, dẫn đến không hiểu và chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Mặc dù anh chị đã tìm cách hàn gắn nhưng không được, khiến cho tình cảm vợ chồng trở nên phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được. Do chị P và anh H không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh chị là phù hợp với khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 11, Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Về con chung: Chị P và anh H có 02 con chung tên Phan Thị N, sinh ngày 27/4/1994 và Phan Chí N1, sinh ngày 14/12/2003. Hiện nay, 02 con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên chị P, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị P và anh H không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 1 Điều 11, Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị P.

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Tô Thị P và anh Phan Chí H.

Về con chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Tô Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006819 ngày 02/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; như vậy chị P đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND H. Thanh Bình;
  • - CCTHADS H. Thanh Bình;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Xuân Nữ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HNGĐ-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 157/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP LY HÔN, TÔ THỊ P - PHAN CHÍ H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger