Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/HNGĐ-ST

NGÀY: 16 - 10 - 2024

V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Đông

Ông Phạm Thành Đồng

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Minh Thơ - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 292/2024/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 372/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm và Quyết định hoãn phiên tòa số 357/QĐST-DS, ngày 25/9/2024 của Hội đồng xét xử sơ thẩm, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1987.
  2. Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố N, tỉnh Quảng Nam.

  3. Bị đơn: Anh Huỳnh Thanh P, sinh năm 1988.
  4. Địa chỉ: ấp D, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa, chị N và anh P đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Ánh N trình bày:

- Về hôn nhân: Chị N và anh P quen biết với nhau từ năm 2011 và qua thời gian tìm hiểu đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre vào ngày 17/9/2012. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến đầu năm 2021 thì bắt đầu quan điểm trong cuộc sống do anh P thường xuyên cờ bạc, uống rượu, đã nhiều lần chị khuyên can nhưng vẫn anh P vẫn không thay đổi nên vợ chồng đã ly thân khoảng tháng 6/2021 cho đến nay. Hiện tại, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, chị không thể hàn gắn lại với anh P nên chị N có đơn khởi kiện và yêu cầu giải quyết cho được ly hôn với anh P.

- Về con chung: Chị N và anh P có các con chung là Huỳnh Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 05/3/20212 và Huỳnh Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 09/7/2015, hiện tại anh P đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị đồng ý để cho anh P tiếp tục nuôi các con chung, chị N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con là 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có, nên không yêu cầu xem xét giải quyết.

Theo bản khai, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Huỳnh Thanh P trình bày:

- Về hôn nhân: Anh P thống nhất với lời trình bày của chị N về thời điểm kết hôn, khoảng thời gian chung sống, về các con chung. Anh P cho rằng trước đây anh cũng có uống rượu, cờ bạc như lời trình bày của chị N nhưng thời gian gần đây thì anh đã thay đổi, lo làm ăn nên muốn vợ chồng hàn gắn lại. Ngoài ra, anh P cho rằng do anh làm nghề tài xế đường dài ít khi về nhà, đến khoảng tháng 6/2021, thì chị N bỏ nhà đi ra ngoài sống riêng, thời gian khoảng hai tháng gần đây anh gặp chị N đi với người đàn ông khác, từ đó chị N mới có đơn ly hôn với anh, đối với tài liệu chứng cứ về chị N không còn chung thủy với anh thì anh chỉ trình bày, không có chứng cứ. Hiện tại, anh P vẫn còn thương vợ con, không muốn ly hôn với chị N, nhưng anh cho rằng anh cũng không biết làm cách nào để cho chị N trở về sống chung vì chị N luôn tránh né, không muốn gặp anh.

- Về con chung: Anh P và chị N chung sống với nhau có các con là Huỳnh Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 05/3/20212 và Huỳnh Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 09/7/2015, hiện tại anh P đang nuôi dưỡng, nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì anh có yêu cầu tiếp tục được nuôi hai con, không yêu cầu chị N có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Đối với anh P là bị đơn trong vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng anh P đều vắng mặt không có lý.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị N thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Bị đơn anh P chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70,72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan.

Về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh N.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh N được ly hôn với anh Huỳnh Thanh P.

- Về con chung: giao các con chung là Huỳnh Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 05/3/20212 và Huỳnh Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 09/7/2015 cho anh P được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Ghi nhận chị N tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con là Huỳnh Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 05/3/20212 và Huỳnh Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 09/7/2015 theo định kỳ hàng tháng, cấp dưỡng cho mỗi con chung mỗi tháng là 1.000.000 (một triệu) đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  • - Chị Nguyễn Thị Ánh N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn và tranh chấp về việc nuôi con chung với anh Huỳnh Thanh P. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị N được xác định vụ án có quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Anh Huỳnh Thanh P là bị đơn có nơi cư trú tại ấp D, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Chị Nguyễn Thị Ánh N có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, anh Huỳnh Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh P.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

  • - Chị Nguyễn Thị Ánh N và anh Huỳnh Thanh P có đăng ký kết hôn, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 83, quyển 02, ngày 17 tháng 9 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre nên quan hệ hôn nhân của chị N và anh P là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
  • - Chị N trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là do anh P không quan tâm chăm lo cho cuộc sống cho gia đình đã nhiều lần trao đổi nhưng anh P vẫn sống theo sở thích của mình nên vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, từ đó bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị và anh P không còn chung sống với nhau từ khoảng tháng 6/2021 cho đến nay, hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nữa. Chị N có yêu cầu được giải quyết cho được ly hôn với anh P.
  • - Đối với hôn nhân của chị N và anh P Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị N cương quyết ly hôn với anh P. Đối với anh P cho rằng còn thương vợ không muốn ly hôn với chị N, nhưng anh cũng không biết cách nào để trao đổi với chị N để vợ chồng hàn gắn lại tình cảm. Anh và chị N không còn chung sống với nhau từ khoảng tháng 6/2021 cho đến nay.

Xét thấy, giữa chị N và anh P không còn tình nghĩa vợ chồng vì không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Hiện tại anh chị xác định không chung sống với nhau trong khoảng thời gian dài.

Từ đó có đủ cơ sở khẳng định hôn nhân của chị N và anh T lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N để giải quyết cho chị N được ly hôn với anh P.

[2.2] Về con chung

  • - Anh P và chị N chung sống với nhau có các con là Huỳnh Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 05/3/20212 và Huỳnh Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 09/7/2015, hiện tại anh P đang nuôi dưỡng, nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì anh có yêu cầu tiếp tục được các con chung, chị N có ý kiến đồng ý để anh P tiếp tục nuôi các con. Theo ý kiến của các con đều có nguyện vọng muốn tiếp tục sống với anh P. Hội đồng xét xử xét thấy để cho các con chung của anh chị được ổn định về tâm lý, việc học tập và có sự thống nhất của chị N và anh P, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của các con, nên giao các con chung của anh P và chị N cho anh P được tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
  • - Về việc cấp dưỡng cho con: theo quy định tại khoản 2 Điều 82 và khoản 1 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, thì anh P có quyền yêu cầu chị N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy anh P có ý kiến không yêu cầu chị N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con, nhưng chị N có ý kiến khi ly hôn chị thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho hai con chung, theo định kỳ hàng tháng, cấp dưỡng cho mỗi con chung mỗi tháng là 1.000.000 đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh P trình bày thống nhất không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Đối với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và ý kiến đề nghị về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • - Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000 đồng.
  • - Về án phí cấp dưỡng chị N là người thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con phải chịu 300.000 đồng và còn phải nộp đủ số tiền này.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh N.

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh N được ly hôn với anh Huỳnh Thanh P.
  2. Về con chung: giao các con chung là Huỳnh Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 05/3/20212 và Huỳnh Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 09/7/2015 cho anh Huỳnh Thanh P được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
  3. Chị Nguyễn Thị Ánh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con là Huỳnh Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 05/3/20212 và Huỳnh Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 09/7/2015 theo định kỳ hàng tháng, cấp dưỡng cho mỗi con chung mỗi tháng là 1.000.000 (một triệu) đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày 16/10/2024.

    Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được quyền cản trở.

    Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh P trình bày thống nhất không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  6. Về án phí:
  7. Chị Nguyễn Thị Ánh N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005191 ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm.

    Chị Nguyễn Thị Ánh N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và còn phải nộp đủ số tiền này.

  8. Về quyền kháng cáo: các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
  9. Về quyền yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - UBND xã L, huyện G;
  • - Chi cục THADS huyện G;
  • - TAND tỉnh Bến Tre.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thanh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HNGĐ-ST ngày 16/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 157/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger