TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 157/2024/HS-ST
Ngày: 04/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng
Các hội thẩm nhân dân: bà Cao Thị Thúy và bà Lê Thị Thùy Linh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà CaoThị Vân - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: bà Hoàng Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 23/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu; Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 135/2024/TLST - HS ngày 26/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2024/QĐXXST – HS ngày 24 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/6/2006, tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Chức vụ trước khi phạm tội: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1975; Họ và tên mẹ: Trần Thị T, sinh năm 1974; Anh chị em ruột có 09 người, bị cáo là con thứ 7 trong gia đình; Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa
2. Họ và tên: Lê Văn S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 12/9/2009, tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (khi thực hiện hành vi phạm tội 15 tuổi 0 tháng 06 ngày); Nơi cư trú: xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Chức vụ trước khi phạm tội: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Lê Hồng K, sinh năm 1978; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị S1, sinh năm 1981; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo đầu thú bị C đi khỏi nơi cư trú và T1 hoãn xuất cảnh từ ngày 27/6/2024 đến 27/10/2024. Có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Văn S: ông Lê Hồng K, sinh năm 1978
Trú tại: xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt);
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn S: Bà Phan Thị T2 – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh N (có mặt);
- Người bị hại: Chị Dương Thị Trà M, sinh năm 2003
Trú tại: xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1975
Trú tại: xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 18/6/2024, Nguyễn Văn H gặp Lê Văn S tại khu vực nhà thờ giáo xứ Y, thuộc xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Tại đây, Nguyễn Văn H rủ Lê Văn S đi cướp giật tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, S đồng ý. Sau đó, Nguyễn Văn H lấy xe máy Honda loại Wave anpha, Biển kiểm soát 37F2- 872.50 chở Lê Văn S đến quán nước cô S2, trú tại xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An mục đích vừa uống nước vừa chờ đợi người dân đi đường sơ hở để cướp giật tài sản. Đến khoảng 18 giờ 45 phút, phát hiệnthấy chị Dương Thị Trà M, sinh năm 2003, trú tại xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An mặc áo cộc tay màu trắng, đeo dây chuyền vàng đang dắt xe mô tô màu trắng để chuẩn bị di chuyển thì H nói với S “đi đi, có người đeo vàng S tề, uống nhanh nhanh mà đi”. Lê Văn S hiểu ý nên đã điều khiển xe mô tô chở H ngồi phía sau đi vượt qua xe máy chị Dương Thị Trà M. Sau khi vượt qua chị Trà M thì H nói với S “dừng lại, chị nó ở đằng sau”. Một lúc sau, chị Dương Thị Trà M vượt lên trước thì H nói S đi theo để chờ cơ hội cướp giật dây chuyền vàng. Khi đi đến đoạn đường liên xóm thuộc xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, nhận thấy khu vực này đường tối, không có người qua lại nên Nguyễn Văn H nói với Lê Văn S “đi theo áp sát vào để giật” thì S điều khiển xe áp sát bên trái xe máy của chị Trà M để Nguyễn Văn H ngồi phía sau dùng tay phải giật mạnhsợi dây chuyền đeo trên cổ chị Trà M khiến sợi dây chuyền đứt rời khỏi cổ. Sau khi bị Nguyễn Văn H giật đứt sợi dây chuyền thì chị Dương Thị Trà M đã dùng tay nắm kéo lại sợi dây chuyền bị đứt và giành lại được phần dây chuyền, còn Nguyễn Văn H2 được phần mặt dây. Sau khi cướp được tài sản, Lê Văn S tăng ga, điều khiển xe máy chở Nguyễn Văn H bỏ chạy về nhà, số vàng cướp giật được Nguyễn Văn H đưa về nhà cất giấu.
Ngày 19/6/2024, chị Dương Thị Trà M có đơn trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D.
Cùng ngày, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Nguyễn Văn H và Lê Văn S đến Cơ quan CSĐT Công an huyện D đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H và Lê Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai các bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự ngày 20/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng loại 18K, có tổng khối lượng 3,91125 gam có kết cấu như sau: Vòng dây chuyền vàng loại 18k có khối lượng 2,425 gam và được gắn với phần mặt làm bằng kim loại vàng, loại 18K, có khối lượng 1,45875 gam có trị giá 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 155/CT-VKS-DC ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố Nguyễn Văn H và Lê Văn S về tội "Cướp giật tài sản" theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 -18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điều 54; điều 90, điều 91; điều 96 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Văn S 12- 15 tháng giáo dục tại trường giáo dưỡng
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội, các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo Lê Văn S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn S đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về hành vi và thái độ, tình tiết giảm nhẹ và các quy định đối với người vị thành niên phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật để cho bị cáo hưởng mức thời gian giáo dục tại trường giáo dưỡng ngắn nhất.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 18/6/2024, tại khu vực đường liên xóm thuộc xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Lê Văn S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37F2- 87250 chở sau Nguyễn Văn H đã có hành vi cướp giật 01 (một) sợi dây chuyền vàng18K của chị Dương Thị Trà M đeo ở cổ, đang điều khiển xe máy di chuyển trên đườngtrị giá 4.800.000 đồng. Như vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự.
[3]. Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, tạo nên tâm lý hoang mang, bất an đối với người dân, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần phải đưa ra một mức án tương xứng hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần phân hóa vai trò và xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để lên một mức án sát đúng.
Trong vụ án này, Nguyễn Văn H đóng vai trò chủ yếu, bị cáo là người chủ mưu, hành vi của bị cáo là táo bạo, liều lĩnh, quyết liệt, rất nguy hiểm nên phải xét xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng và cần thiết phải cách li bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm của pháp luật. Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo Lê Văn S đang là vị thành niên, trong vụ án giữ vai trò thứ yếu, giúp sức, không có yếu tố tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn, S là người điều khiển xe máy để H trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Xét tính chất hành vi phạm tội và nhân thân Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc là hình phạt quy định tại điều 32 Bộ luật hình sự mà căn cứ các quy định của pháp luật tại các điều 90, 91 và 96 Bộ luật hình sự áp dụng biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dục trường G, đưa bị cáo vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ nhằm giáo dục, ngăn ngừa là phù hợp.
* Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội ra đầu thú, tự nguyện sữa chữa, bồi thường thiệt hại cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s, khoản 1, 2 điều 51 và áp dụng điều 54 của Bộ luật hình sự để xử Nguyễn Văn H dưới khung hình phạt và cho Lê Văn S hưởng mức thời gian áp dụng thấp nhất theo quy định tại Bộ luật Hình sự.
* Tình tiết tăng nặng: không.
[4]. Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có việc làm, không có tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về vật chứng:
- 01 (Một) sợi dây chuyền vàng loại 18K, có tổng khối lượng 3,91125 gam có kết cấu như sau: Vòng dây chuyền vàng loại 18k có khối lượng 2,425 gam và được gắn với phần mặt làm bằng kim loại vàng, loại 18K, có khối lượng 1,45875 gam. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là chị Dương Thị Trà M nên miễn xét.
- 01 (một) chiếc xe máy biển kiểm soát 37F2- 87250, nhãn hiệu Honda, loại Wave Anpha, sơn màu đỏ, đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn H1 nên miễn xét.
[6]. Về dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chị Dương Thị Trà M. Chị M đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
[7]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Văn S là người dưới 16 tuổi, có đơn xin miễn nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn S và Nguyễn Văn H đều phạm tội “Cướp giật tài sản ”.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b khoản 1, 2 Điều 51; điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (19/6/2024).
Căn cứ vào điểm d, khoản 2 điều 171; điểm b khoản 1, 2 điều 51; điều 90, điều 91, điều 96 Bộ luật hình sự năm 2015
Xử phạt bị cáo Lê Văn S 12 (mười hai) tháng giáo dục tại trường G.
Thời gian chấp hành kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ để đưa vào trường giáo dưỡng.
3. Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Văn S.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo Lê Văn S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Danh Hùng |
Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 04/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN về hình sự - cướp giật tài sản
- Số bản án: 157/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử
