Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/DS-ST

Ngày 30 - 9 - 2024

V/v Tranh chấp Hợp đồng

mua bán tài sản và vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU- TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Hồng Trinh
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Mễn
  • Ông Lê Trường Hận

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu: Bà Trần Minh Muội – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 253/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán và vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Cao Huỳnh A, sinh năm 1997. Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Huỳnh Minh H, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang (văn bản uỷ quyền ngày 09/10/2023)

Bị đơn: Ông Phan Tấn Đ, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số F, đường C, Khóm A, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Ông A và ông Đ mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 10/10/2023 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trong vụ án trình bày:

Bà Cao Huỳnh A có buôn bán điện thoại di động các loại và ông Phan Tấn Đ có nhiều lần đến mua bán điện thoại nên có quen biết từ khoảng năm 2021. Ông Đ có nhiều lần đến gặp bà Huỳnh A để mua bán điện thoại với nhau, tính đến ngày 10/8/2022, ông Đ còn nợ lại giá trị của 06 cái điện thoại với tổng giá trị là 123.000.000 đồng, khi mua bán các điện thoại thì có làm các hợp đồng trả góp tuy nhiên sau đó khi ông Đ làm giấy cam kết để xác nhận lại nợ thì đã huỷ các hợp đồng này nên hiện nay không có để cung cấp cho toà.

Ngoài ra, vào ngày 20/8/2022, ông Đ có vay của bà Cao Huỳnh A số tiền 88.000.000 đồng, không có làm biên nhận, giao tiền mặt tại cửa hàng của bà A. Cam kết trong vòng 01 tháng thì sẽ trả lại cho bà A nhưng không thực hiện. Có thoả thuận lãi suất là 1,66%/tháng.

Tuy nhiên, sau đó ông Đ đã không thực hiện đúng theo sự thoả thuận mà cố tình tránh né không trả nợ, chưa trả khoản tiền vốn và lãi nào cho bà A. Vào ngày 03/12/2022 thì tại Công an phường A, quận B, thành phố Cần Thơ thì Công an phường A có mời hai bên lên làm việc và tại đây ông Đ đã tự viết giấy cam kết đề ngày 03/12/2022, cam kết tổng số tiền nợ bà A là 211.000.000 đồng và hứa sẽ trả hết trong 03 tháng và đồng thời có xuất trình giấy chứng minh nhân dân của ông Phan Tấn Đ cho công an. Ngày thực hiện trả nợ tính từ ngày 15 tháng 12 năm 2022 đến ngày 15 tháng 3 năm 2023 sẽ trả hết số tiền nợ hai trăm mười một triệu đồng. Nhưng sau đó không thực hiện, không thanh toán được khoản tiền nào cho bà A và hiện nay bà A cũng không liên hệ được.

Trong đơn khởi kiện bà A yêu cầu ông Phan Tấn Đ trả số tiền 211.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 15/12/2022 với lãi suất 20%/năm cho đến khi trả hết nợ, tạm tính đến ngày 12/7/2024 là 66.367.000 đồng.

Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn có đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền vốn là 211.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 15/3/2023 cho đến khi trả hết nợ với lãi suất 10%/năm. Không yêu cầu gì khác

Trong quá trình tố tụng tại Toà, bị đơn ông Phan Tấn Đ đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà nhưng ông không đến tham gia tố tụng và không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa:

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.

- Về việc giải quyết vụ án:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện do rút yêu cầu của bà Cao Huỳnh A đối với ông Phan Tấn Đ về số tiền lãi với lãi suất là 20%/năm.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Huỳnh A đối với ông Phan Tấn Đ về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và nợ vay. Buộc ông Phan Tấn Đ có trách nhiệm trả cho bà Cao Huỳnh A tổng số tiền nợ là 243.529.000 đồng gồm tiền vốn là 211.000.000 đồng, tiền lãi là 32.529.000 đồng. Buộc ông Đ phải tiếp tục trả

tiền lãi với lãi suất 10%/năm trên số tiền vốn vay tính từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.

3/ Ông Phan Tấn Đ phải chịu án phí là 12.176.000 đồng. Bà Cao Huỳnh A không phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Bà Cao Huỳnh A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phan Tấn Đ trả nợ vay và mua bán tài sản nên đây là tranh chấp hợp đồng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo giấy cam kết đề ngày 03/12/2022 thể hiện bị đơn cung cấp chỗ ở hiện tại: F2, khu dân cư B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ nhưng tại biên bản xác minh đề ngày 03/02/2024 Công an phường L, quận B, thành phố Cần Thơ cung cấp: “Ông Đ không có đăng ký thư trú, tạm trú tại đường F, khu dân cư B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Hiện tại Phan Tấn Đ không còn sinh sống tại đây.” Tại phiếu CT07 do Công an phường A1, thành phố B cung cấp: Ông Phan Tấn Đ, sinh năm 1990. Có đăng ký thường trú và nơi ở hiện tại: Số F, đường C, khóm A, phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

[2] Sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ và niêm yết văn bản tố tụng, triệu tập xét xử lần thứ hai nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Điều này chứng tỏ bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cho mình và nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn có nộp đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện trong đó có rút lại yêu cầu về việc tính lãi suất là 20%/năm mà chỉ yêu cầu lãi suất là 10%/năm nên căn cứ Điều 5, khoản 2 Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn có quyền rút một phần yêu cầu khởi kiện nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn về số tiền lãi với lãi suất là 20%/năm, chỉ giải quyết đối với yêu cầu tiền lãi với lãi suất là 10%/năm.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Cao Huỳnh A, thấy rằng:

[3.1] Xét giấy cam kết đề ngày 3/12/2022 thể hiện: “Tôi có thiếu Cao Huỳnh A số tiền 211.000.000 đ (Hai trăm mười một triệu đồng) từ ngày 10/8/2022 đến nay. (Mua 6 cái đtdd với số tiền 123.000.000 đồng và mượn tiền mặt thêm) trong đó có 3 cái hình thức trả góp nhưng tôi không góp nổi nên nay tôi chuyển trở thành tiền máy. Hôm nay, ngày 3/12/2022 tôi có làm việc với Cao Huỳnh A hẹn từ ngày hôm nay đến hết 5 tháng tôi sẽ trả dần hết số tiền nợ. Trong đó (từ nay đến ngày 15/12/2022 tôi sẽ đưa trước cho Cao Huỳnh A số tiền ít nhất 20.000.000 đ) còn lại sẽ trả dần cho đến hết trong 3 tháng tiếp theo (ngày 15/3/2023).” Theo

nguyên đơn xác định nội dung giấy cam kết này do bị đơn viết và giao lại cho nguyên đơn giữ cùng với việc nguyên đơn cho chụp giấy chứng minh nhân dân của bị đơn tại Công an phường A, quận B, thành phố Cần Thơ. Nội dung này phù hợp với nội dung do Công an phường A, quận B, thành phố Cần Thơ cung cấp. Đồng thời, Toà án đã tiến hành tống đạt cho bị đơn biết về nội dung yêu cầu khởi kiện nguyên đơn cùng các tài liệu chứng cứ nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối do đó căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định tính đến ngày 03/12/2022, ông Phan Tấn Đ còn nợ lại bà Cao Huỳnh A số tiền nợ mua bán điện thoại và nợ vay là 211.000.000 đồng.

Nguyên đơn trình bày từ ngày 03/12/2022 đến nay phía bị đơn chưa thanh toán số tiền vốn nào cho nguyên đơn, phía bị đơn không có ý kiến phản đối, vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu trả số tiền vốn của nguyên đơn.

[5] Xét yêu cầu tiền lãi tính từ ngày 15/3/2023 cho đến khi trả hết nợ với lãi suất 10%/năm với số tiền gốc là 211.000.000 đồng, thấy rằng: Căn cứ khoản 4 Điều 466 và Điều 357 Bộ luật dân sự thì yêu cầu trả tiền lãi tính từ ngày 15/3/2023 với lãi suất là 10%/năm của nguyên đơn là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Vì vậy, số tiền lãi mà bị đơn cần phải thanh toán cho nguyên đơn cụ thể như sau:

  • - Thời gian tính lãi từ ngày 15/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2024 với số tiền vốn là 211.000.000 đồng, với lãi suất 10%/năm, tổng tiền lãi là 32.529.000 đồng.

Ngoài ra, kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (kể từ ngày 01/10/2024), bị đơn phải chịu tiền lãi theo tiền lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[6] Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

[7] Về án phí: Bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ là 243.529.000 đồng nên phải chịu án phí là 12.176.000 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí.

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 5; khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 2 Điều 71; khoản 2 Điều 92; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
  • - Căn cứ vào Điều 357; Điều 430; Điều 440; Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện do rút yêu cầu của bà Cao Huỳnh A đối với ông Phan Tấn Đ về việc yêu cầu lãi suất 20%/năm.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Huỳnh A đối với ông Phan Tấn Đ về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng mua bán tài sản.

    Buộc ông Phan Tấn Đ có trách nhiệm trả cho bà Cao Huỳnh A số tiền là 243.529.000 đồng (Hai trăm bốn mươi ba triệu năm trăm hai mươi chín ngàn đồng) gồm tiền gốc là 211.000.000 đồng (Hai trăm mười một ngàn đồng), tiền lãi là 32.529.000 đồng (Ba mươi hai triệu năm trăm hai mươi chín ngàn đồng).

  3. Kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2024 cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, người phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  4. Về án phí: Ông Phan Tấn Đ phải chịu án phí là 12.176.000 đồng (Mười hai triệu một trăm bảy mươi sáu ngàn đồng).

    Bà Cao Huỳnh A không phải chịu án phí. Bà A đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 6.139.514 đồng theo biên lai thu tiền số 0002380 ngày 05/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ được hoàn lại toàn bộ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • -VKSND Tp. Bạc Liêu;
  • -CCTHADS Tp. Bạc Liêu;
  • -Đương sự;
  • -Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Hồng Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và vay tài sản

  • Số bản án: 157/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản và vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Huỳnh A - Phan Tấn Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger