TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 157/2024/DS-ST
Ngày: 26/9/2024
V/v tranh chấp quyền
sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Phước Công; Bà Hoàng Thị Thiện Lai.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2024/TB-TLVA, ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp: “Quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 868/2024/QĐST- DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc C, sinh năm 1988, địa chỉ: F tổ B ấp M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Mai Ngọc T, sinh năm 1989; nơi cư trú khóm A, thị trấn H, huyện C. Có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1946; có yêu cầu vắng mặt.
Ông Phan Thanh T1, sinh năm 1970; vắng mặt.
Bà Phan Thị Cẩm T2, sinh năm 1979; vắng mặt.
Ông Phan Thanh B, sinh năm 1975 (chết) kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:
Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1946; có yêu cầu vắng mặt.
Anh Phan Thanh T3, sinh năm 2002; vắng mặt.
Cùng cư trú: tổ B ấp M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Bà Trần Ngọc C được Ủy ban nhân dân huyện C cấp quyền sử dụng đất diện tích 3.365,10m² thuộc thửa đất số 53, 60, 80 thuộc tờ bản đồ số 40, 41 ngày 15/03/2017; giáp ranh với thửa đất số 53 là phần đất gia đình bà Nguyễn Thị D, ông Phan Thanh T1, ông Phan Thanh B, bà Nguyễn Thị Cẩm T4 đã tự ý lấn chiếm qua diện tích 128m² (ngang 1,6m dài 80m). Nay yêu cầu bà D và gia đình di dời, vật kiến trúc trên đất trả lại diện tích lấn chiếm chiều ngang khoảng 1,6m dài khoảng 80 tổng cộng 128m² đất tọa lạc tại ấp M, thị trấn M, huyện C.
Bị đơn bà Nguyễn Thị D trình bày: bà sử dụng và được cấp quyền sử dụng đất do bà đứng tên quyền sử dụng đất diện tích 1163,9m² thuộc thửa đất số 53, tờ bản đồ số 41 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03680 QSDĐ/pB ngày 16/02/2001; bà hiện đang sống cùng với con của Phan Thanh B là Phan Thanh T3; giáp ranh với phần đất của bà là phần đất của gia đình nguyên đơn; vào khoảng năm 2005 thì cha mẹ của bà C là ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị C1 tự ý xây dựng hàng hàng rào bằng lưới B40; việc xây dựng hàng rào cũng không có mời tôi đến để xác định mốc ranh cụ thể, hàng rào từ Tỉnh lộ 942 dài hết đất; gia đình tôi cũng không phản đối; do phía trước gia đình hai bên đều có xây dựng nhà trong quá trình sinh hoạt hàng ngày thì giữa hai gia đình không có thuận thảo, nên đến khoảng năm 2007 bà mới xây dựng hàng rào bằng tường trên phần đất của gia đình cặp với hàng rào của gia đình nguyên đơn dài 11,75m cao 1,2m. Khi xây dựng tường rào thì gia đình của nguyên đơn cũng không có ý kiến và cũng không có tranh chấp gì cả. Sau này không biết lý do gì mà khởi kiện tranh chấp cho rằng gia đình bà lấn đất. Qua kết quả do đạc theo bản vẽ ngày 30/5/2024 phía gia đình nguyên đơn sử dụng chưa hết phần đất được cấp quyền sử dụng đất là do trước đây họ xây dựng hàng rào chưa hết đất chứ gia đình bà không có lấn chiếm và cũng không có sử dụng phần đất này. Nay không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bà trả lại diện tích 128m² (ngang 1,6m dài 80m). Đối với phần đất diện tích 9,3m² của gia đình nguyên đơn được cấp quyền sử dụng đất bà không có tranh chấp đất của họ thì họ tự sử dụng.
Anh Phan Thanh T3 thống nhất theo ý kiến của bị đơn bà D. Không có ý kiến gì bổ sung.
Ông Phan Thanh T1, bà Phan Thị Cẩm T2 không gửi ý kiến đến Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật tố tụng. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại đất. Đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã đưa Ngân hàng N vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên theo văn bản ngày 16/8/2024 của Ngân hàng N chi nhánh M thì Ngân hàng đã trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phiếu yêu cầu xóa thế chấp cho bà Trần Ngọc C ngày 24/6/2024. Vì vậy Ngân hàng N không còn liên quan đến quyền và nghĩa vụ trong vụ án này nên không đưa Ngân hàng N vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất diện tích là 128m² đất tọa lạc tại ấp M, thị trấn M, huyện C. Bị đơn không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn.
2.1. Tòa án tiến hành định xem xét thẩm định tại chỗ, định giá đất và đo đạt diện tích đất tranh chấp, qua đo đạt phần đất hiện có tranh chấp diện tích 9,3m² tại các điểm 3, 35, 36 thuộc thửa đất số 53, tờ bản đồ số 41; diện tích 10,6m² tại các điểm 8, 33, 34, 23, 36 thuộc thửa đất số 54, tờ bản đồ số 41 theo Bản vẽ hiện trạng khu đất ngày 30/5/2024 của Văn phòng Đ chi nhánh C2 đất tọa lạc tại thị trấn M, huyện C. Hiện trạng các điểm 38, 34, 23, 35 là hàng rào do của gia đình nguyên đơn. Đất có giá 1.000.000đ/m².
2.2. Xét thấy nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại chấp diện tích lấn chiếm chiều ngang khoảng 1,6m dài khoảng 80 tổng cộng 128m². Chứng cứ nguyên đơn cung cấp trong quá trình khởi kiện là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03661QSDD/pB ngày 16/02/2001 (nguyên đơn được tặng cho lại vào 15/03/2017) và Hồ sơ kỹ thuật khu đất. Bị đơn cung cấp chứng cứ là cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03680QSDĐ/pB ngày 16/02/2001.
Thấy rằng, qua kết quả đo đạc phần đất tranh chấp diện tích 10,6m² tại các điểm 8, 33, 34, 23, 36 thuộc thửa đất số 54, tờ bản đồ số 41 theo là thuộc quyền sử dụng của bị đơn; đối với diện tích 9,3m² tại các điểm 3, 35, 36 thuộc thửa đất số 53, tờ bản đồ số 41 là thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn, hiện trạng là đất trống phía bị đơn cũng không sử dụng và cũng không có tranh chấp. Xét thấy phần đất diện tích 9,3m² tại các điểm 3, 35, 36 là thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn tuy nhiên quá trình sử dụng đất thì nguyên đơn xây dựng hàng
rào để bảo vệ đất thì không sử dụng diện diện tích này, phía bị đơn cũng không sử dụng; Vì vậy việc nguyên đơn cho rằng bị đơn lấn chiếm là không có cơ sở chấp nhận. Ngoài ra nguyên đơn cũng không có căn cứ gì chứng minh bị đơn lấn chiếm diện tích chiều ngang 1,6m dài 80m tổng cộng 128m² nên không có cơ sở đến hội đồng xét xử cấp nhận.
[3] Về chi phí tố tụng: chi phí đo đạc 3.332.232đ; chi phí thẩm định tại chỗ, định giá số tiền 1.000.000đ, tổng cộng 4.332.232đ (nguyên đơn tạm nộp) do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định;
Vì các lẽ trên,
Quyết định:
Áp dụng: Điều 26, 35, 39, 227, 235, 217, 244 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166; 203 Luật đất đai năm 2013. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Ngọc C yêu cầu bà Nguyễn Thị D, ông Phan Thanh T1, bà Phan Thị Cẩm T2, anh Phan Thanh T3 trả lại phần đất diện tích ngang 1,6m dài 80m tổng cộng 128m² tọa lạc tại thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang.
(Bản vẽ hiện trạng khu đất ngày 30/5/2024 của Văn phòng Đ chi nhánh C2 là phần không tách rời của Bản án).
Chi phí phí tố tụng: Số tiền 4.332.232đ bà Trần Ngọc C phải chịu (đã nộp xong).
Án phí DSST: Bà Trần Ngọc C phải chịu 6.400.000đ được khấu trừ vào tiền tạm nộp án phí 3.200.000đ theo biên lai thu số 0015056 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, phải nộp tiếp số tiền 3.200.000đ.
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh An Giang trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |
Bản án số 157/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 157/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả lại đất lấn chiếm
