Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ L

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bán án số: 157/2024/HNGĐ - ST

Ngày 04 tháng 9 năm 2024

“Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam

- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn; Ông Huỳnh Văn Nam

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 421/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo số: 574/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 534/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phan Văn Tây H, sinh năm 1986. Nơi cư trú: số I, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyền E, sinh năm 1994. Nơi cư trú: số E, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

(Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/7/2024 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Phan Văn Tây H trình bày: Năm 2013, ông H và bà Nguyễn Thị T Em quen biết, tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 21/3/2013. Sau khi kết hôn, cả hai vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm dẫn đến cự cãi, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà Tuyền E về nhà cha mẹ đẻ sống cho đến nay. Do đó, ông H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Tuyền E, vì cả hai có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Về con chung: có 01 con tên Phan Thị Tuyết N, sinh ngày 27/5/2023. Hiện cháu N do bà Tuyền E chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, ông H đồng ý cho bà Tuyền E được tiếp tục nuôi dưỡng con, ông H không cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn Nguyễn Thị Tuyền E vắng mặt trong thời gian chuẩn bị xét xử, không nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bị đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn. Về con chung: Giao cho bị đơn được tiếp tục nuôi con chung. Về cấp dưỡng, bị đơn không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ ý kiến của các đương sự tại bản tự khai, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn đăng ký thường trú tại thành phố L nên nguyên đơn khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn nhận được các văn bản do Tòa án cấp tống đạt nhưng vắng lần thứ hai tại phiên tòa, không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 21/3/2013 của Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, thể hiện giữa nguyên đơn, bị đơn tiến đến hôn nhân xuất phát từ sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, phù hợp Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, quá trình chung sống, nguyên đơn cho rằng vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thiếu sự chia sẻ, cảm thông nhau trong cuộc sống vợ chồng, bị đơn không có trách nhiệm với gia đình nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng bị đơn không có ý kiến.

Xét thấy, trong quan hệ hôn nhân, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, tin tưởng và chia sẻ nhau những khó khăn để vượt qua thử thách, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp cho hôn nhân, cho gia đình hạnh phúc. Giữa nguyên đơn, bị đơn đã có thời gian quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân xuất phát từ tình cảm yêu thương nhưng khi đã thành vợ chồng thì cả hai không xây dựng gia đình hạnh phúc, không tin tưởng nhau trong đời sống vợ chồng. Quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng bị đơn không quan tâm, không phản bác lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia hòa giải để hàn gắn quan hệ hôn nhân, điều này thể hiện tình cảm vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, xét về tình nghĩa vợ chồng thì cả hai không chung sống nên không còn nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là có căn cứ, phù hợp với Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Ông H và bà T Em có 01 con tên Phan Thị Tuyết N, sinh ngày 27/5/2013. Hiện cháu N do bà T chăm sóc. Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành cũng như xem xét điều kiện, hoàn cảnh, cháu N sống ổn định với bà T nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao quyền cho bà Tuyền E được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung theo quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà Tuyền E cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định pháp luật.

[2.3] Về cấp dưỡng: Bà Tuyền E không yêu cầu nên không xét đến.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 19; Điều 51; Điều 56, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. [1] Về hôn nhân: Ông Phan Văn T1 Huề được ly hôn với bà Nguyễn Thị Tuyền E. Quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà Tuyền E chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. [2] Về con chung: Bà Tuyền E được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Phan Thị Tuyết N, sinh ngày 27/5/2013. Bà Tuyền E cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định pháp luật.
  3. [3] Về cấp dưỡng: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xét đến
  4. [4] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
  5. [5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn Phan Văn T1 Huề phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002333 ngày 08/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L. Nguyên đơn đã thực hiện xong.
  6. [6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

(Giải thích điều 26 Luật Thi hành án dân sự)

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp.L;
  • - VKSND Tp.L;
  • - Phòng KTNV - TAND tỉnh An Giang;
  • - UBND phường M, Tp.L;
  • - Lưu hồ sơ + VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Quốc Nam

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HNGĐ - ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 157/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn. Bị đơn được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger