Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04/9/2024

Tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Kim Thu;

Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 264/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 89/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hồ Văn Đ, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Tổ 10, ấp Cản Đất, xã Mỹ Thuận, huyện H, tỉnh K (Vắng mặt - Có đơn xin giải quyết vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Bùi Thị Ngọc T, sinh năm: 1994. Địa chỉ: Ấp Bến Đá, xã Thổ Sơn, huyện H, tỉnh K (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Hồ Văn Đ trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Trước đây anh Được và chị Thúy quen biết nhau là do mai mối, sau đó anh chị được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào năm 2014, anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã Mỹ Thuận, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 03 ngày 21/01/2015. Sau khi chung sống với nhau được vài tháng thì giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục được nên anh và chị Thúy đã sống ly thân với nhau hơn 9 năm nay. Do đó nay anh Hồ Văn Đ yêu cầu Tòa án cho anh được ly hôn với chị Bùi Thị Ngọc T vì tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc và không thể hàn gắn.

- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, anh Được và chị Thúy có 1 người con chung tên Bùi Trấn Thành, sinh ngày 20/6/2014. Từ khi ly thân cháu Thành sống cùng chị Thúy nên khi ly hôn anh Được đồng ý giao con chung cho chị Thúy tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và anh không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Hồ Văn Đ xác định quá trình chung sống với nhau, anh và chị Thúy không có tài sản chung, cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn chị Bùi Thị Ngọc T:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng chị Thúy đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị Thúy đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án anh Hồ Văn Đ yêu cầu được ly hôn với chị Bùi Thị Ngọc T. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn chị Bùi Thị Ngọc T có nơi cư trú tại ấp Bến Đá, xã Thổ Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Hồ Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Bùi Thị Ngọc T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Anh Hồ Văn Đ và chị Bùi Thị Ngọc T đi đến hôn nhân là do mai mối, sau đó được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 2014, anh chị có đăng ký kết hôn và được UBND xã Mỹ Thuận, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21/01/2015. Như vậy, hôn nhân giữa anh Hồ Văn Đ và chị Bùi Thị Ngọc T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu của anh Được về việc yêu cầu ly hôn với chị Thúy thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa anh Được và chị Thúy có phát sinh mâu thuẫn, theo anh Được trình bày thì nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh và chị Thúy bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không hòa hợp được nên anh chị đã sống ly thân với nhau hơn 9 năm nay. Anh Được cũng xác định trong thời gian anh và chị Thúy sống ly thân với nhau, thì giữa anh chị không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án, tiến hành giải thích pháp luật và động viên anh Được đoàn tụ gia đình, nhưng anh Được vẫn kiên quyết ly hôn với chị Thúy. Đồng thời Tòa án cũng tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Thúy nhiều lần, nhưng chị Thúy vẫn vắng mặt và không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của anh Được, điều này chứng tỏ chị Thúy cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh Được.

Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa anh Được và chị Thúy đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc anh Hồ Văn Đ yêu cầu ly hôn với chị Bùi Thị Ngọc T là có cơ sở. Do đó căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Hồ Văn Đ được ly hôn với chị Bùi Thị Ngọc T.

[3.2] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh Được xác định anh chị có một người con chung tên Bùi Trấn Thành, sinh ngày 20/6/2014. Ly hôn anh Hồ Văn Đ đồng ý giao cháu Thành cho chị Thúy tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và anh không cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, từ khi anh Được và chị Thúy sống ly thân cho đến nay chị Thúy là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thành, cháu vẫn phát triển bình thường. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và nhằm giúp cháu Thành phát triển tốt về mọi mặt, nên tiếp tục giao cháu Bùi Trấn Thành, sinh ngày 20/6/2014 cho chị Thúy tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Hồ Văn Đ không cấp dưỡng nuôi con. Trong khi đó quá trình giải quyết vụ án chị Thúy không đến Tòa án làm việc nên không ghi nhận được ý kiến của chị về việc có yêu cầu anh Được phải cấp dưỡng nuôi con hay không. Do đó HĐXX không có cơ sở để xem xét. Sau này nếu chị Thúy có yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con chung thì có thể khởi kiện thành vụ án kiện khác theo quy định của pháp luật.

[3.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Được xác định giữa anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung và anh Được không yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì anh Hồ Văn Đ phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hồ Văn Đ được ly hôn với chị Bùi Thị Ngọc T.

2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Bùi Trấn Thành, sinh ngày 20/6/2014 cho chị Bùi Thị Ngọc T được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian chị Bùi Thị Ngọc T nuôi con; anh Hồ Văn Đ có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Hồ Văn Đ xác nhận giữa anh và chị Bùi Thị Ngọc T không có tài sản chung và nợ chung, nên anh Được không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc anh Hồ Văn Đ phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001109 ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, anh Hồ Văn Đ không phải nộp thêm.

5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - CCTHADS huyện Hòn Đất;
  • - UBND xã Mỹ Thuận, huyện Hòn Đất;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Quốc Chiến

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 157/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Được và Thúy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger