Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14 - 6 - 2024

V/v "tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Chí Lin;
  2. Bà Trần Thị Đổi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Phụng - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 329/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXX-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Nhã C, sinh năm 1998 (có mặt).

Địa chỉ: Số C xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Tạm trú: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Võ Đức M, sinh năm 1987 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trương Thị Nhã C trình bày:

Bà và ông Võ Đức M xác lập quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn vào ngày 14/9/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ. Ông bà hiện không còn sống chung và không thể hàn gắn nên bà khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông M.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Võ Khánh H, sinh ngày 19/02/2018. Sau khi ly hôn, bà đồng ý để ông M tiếp tục nuôi dưỡng con chung, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Võ Đức M trình bày:

Ông thống nhất với lời trình bày của bà Trương Thị Nhã C về thời gian chung sống; điều kiện kết hôn; con chung và nguyên nhân mâu thuẫn. Bà C nộp đơn ly hôn, ông không đồng ý vì ông còn thương vợ con. Tuy nhiên, ông không đưa ra được biện pháp hàn gắn quan hệ hôn nhân.

Về con chung: Con chung tên Võ Khánh H, sinh ngày 19/02/2018. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ông bà ly hôn, ông yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu bà C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trương Thị Nhã C nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông Võ Đức M có địa chỉ cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà C và ông M tự nguyện tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 14/9/2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ phần trình bày của bà C về mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn, hiện không còn sống chung, không quan tâm lo lắng cho nhau, bà C vẫn giữ yêu cầu ly hôn, ông M không đồng ý nhưng không đưa ra được biện pháp hàn gắn quan hệ hôn nhân. Qua đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà C và ông M là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của các bên không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trương Thị Nhã C.

Về con chung: Qúa trình chung sống, ông bà có 01 con chung tên Võ Khánh H, sinh ngày 19/02/2018. Xét thấy, cháu H từ lúc sinh ra đến nay đều sống cùng cha, được cha chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phát triển khỏe mạnh, toàn diện. Ông M và bà C đều thống nhất giao cháu H cho ông M tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, căn cứ vào điều kiện của các bên, quyền lợi về mọi mặt và lợi ích của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Võ Khánh H cho ông M tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Chân không phải cấp dưỡng nuôi con do ông M không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét. Trường hợp sau này các đương sự phát sinh tranh chấp được quyền khởi kiện thành vụ án khác.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Trương Thị Nhã C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trương Thị Nhã C đối với ông Võ Đức M.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Nhã C được ly hôn với ông Võ Đức M.

Về con chung: Ông Võ Đức M được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Võ Khánh H, sinh ngày 19/02/2018.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Trương Thị N Chân không phải cấp dưỡng nuôi con do ông M không yêu cầu.

Bên không nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về án phí: Bà Trương Thị Nhã C phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006636 ngày 18/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà Trương Thị Nhã C đã nộp xong.

Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Ủy ban nhân dân xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Tho

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 157/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thị Nhã Chân tranh chấp ly hôn Võ Đức Mạnh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger