Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/HSST

Ngày: 20/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Minh Quang.
  • - Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Luyến;
  • 2. Bà Nguyễn Thị Thanh;
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Quách Ngọc Mai - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 20/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2024/HSST ngày 30/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2024/QĐXXST-HS ngày 04/9/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Cao Văn L; Tên gọi khác: không.

Sinh ngày: 10/7/1986, tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm A, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 9/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố là Cao Quốc Q (đã chết); Mẹ là Nguyễn Thị H (sinh năm 1957); Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Có vợ là: Tạ Thị Mỹ D (sinh năm 1998), vợ chồng có 01 con chung, sinh năm 2021. Trước đó bị cáo có vợ: Phạm Thị H1 (sinh năm 1989, đã ly hôn) và 02 con chung, (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016).

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo không bị giam giữ, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa)

2. Họ và tên: Dương Hoàng H2; Tên gọi khác: không.

Sinh ngày: 28/01/1992, tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố T, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12. Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố là Dương Đức H3 (đã chết); Mẹ là Trịnh Thị T (đã chết); Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Có vợ là: Đỗ Thị H4 (sinh năm 1993), vợ chồng có 02 con chung (con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2021).

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên (nay là thành phố P), tỉnh Thái Nguyên xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” tại Bản án số 82/2013/HSST ngày 27/9/2013. Ngày 25/9/2014, thi hành xong các khoản án phí và ngày 31/8/2015 được đặc xá, tính đến ngày phạm tội đã được xóa án tích.

Bị cáo không bị giam giữ, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa)

3. Họ và tên: Dương Đình S; Tên gọi khác: không.

Sinh ngày: 12/12/1995, tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: TDP C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12. Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố là Dương Đình H5 (sinh năm 1969); Mẹ là Nguyễn Thị Thanh H6 (sinh năm 1974); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là: Lương Ngọc H7 (sinh năm 1995), vợ chồng có 01 con chung, sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/6/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

(Có mặt tại phiên tòa)

4. Họ và tên: Lê Hữu T1; Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày: 08/8/1994, tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố H, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12. Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố là Lê Quốc T2 (sinh năm 1967); Mẹ là Nguyễn Thị N (sinh năm 1974); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là: Nguyễn Thùy H8 (sinh năm 1998), vợ chồng có 01 con chung, sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo không bị giam giữ, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Đình T3, sinh năm 1979; Trú tại: Tổ dân phố T, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Việt H9, sinh năm 1992 (Vắng mặt)

Trú tại: TDP B, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Anh Phạm Quang T4, sinh năm 1989 (Vắng mặt)

Trú tại: TDP Q, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

* Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn N1, sinh năm 1959; (Vắng mặt)

Trú tại: Tổ dân phố T, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 11/5/2024, tổ công tác của Đ Công an thành phố P kiểm tra phát hiện tại quán Cà phê - Bể bơi H10 của gia đình anh Hoàng Đình T3 (sinh năm 1979) thuộc tổ dân phố T, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên có 04 đối tượng đang đánh bạc dưới hình thức chơi “Bi - a” sát phạt nhau bằng tiền, trong đó: Dương Hoàng H2 và Cao Văn L là người trực tiếp chơi “B - a” được thua bằng tiền, còn Lê Hữu T1 và Dương Đình S là người cầm tiền để chi trả tiền thắng, thua sau những ván đánh “Bi - a” của H2 và L. Vật chứng thu giữ: 16 quả “Bi - a”, 01 bộ bài Tú lơ khơ (gồm 52 quân bài), 03 cục Lơ đã qua sử dụng, 02 găng tay (loại 03 ngón), 02 gậy bi a, 4.200.000 đồng do S tự nguyện giao nộp (niêm phong ký hiệu T1), 2.000.000 đồng do Tình tự nguyện giao nộp (niêm phong ký hiệu T2). Sau đó, tổ công tác của Đ Công an thành phố P đã tiến hành lập biên bản sự việc, niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ 4.500.000 đồng của T1 (niêm phong ký hiệu T3), theo T1 khai không sử dụng vào việc đánh bạc.

Tại bản Kết luận giám định số 704/KL-KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Số tiền gửi giám định trong phong bì ký hiệu T1, T2, T3 là tiền thật.

Quá trình điều tra Cao Văn L, Dương Hoàng H2, Dương Đình S và Lê Hữu T1 khai nhân: Khoảng 10 giờ ngày 11/5/2024, Dương Hoàng H2 và Cao Văn L có đến quán H10 của anh Hoàng Đình T3 (sinh năm 1979) thuộc tổ dân phố T, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên và rủ nhau chơi “Bi - a”. Lúc đầu H2 và L chỉ chơi “B - a” vui với nhau, nhưng sau đó rủ nhau chơi “B - a” được thua bằng tiền. Về hình thức đánh bạc bằng chơi “Bi a” được các đối tượng thỏa thuận: Sử dụng bộ tú lơ khơ 52 lá bài chia cho mỗi người 09 lá, sau đó mỗi người đánh các bi mục tiêu có số tương ứng trên lá bài của mình xuống lỗ, ai đánh xuống lỗ hết trước thì người đó thắng, người thua sẽ phải trả cho người thắng số tiền 100.000 đồng/01 lá bài (tương ứng số lượng lá bài của người thua còn lại). Ngoài ra, người chơi đánh được bị mục tiêu có số tương ứng với số lá bài của mình xuống lỗ 10 thì người chơi còn lại mất cho người đó 100.000 đồng, người chơi đánh được bị mục tiêu có số 14 hoặc 15 xuống lỗ 10 thì người chơi còn lại mất cho người đó 200.000 đồng. Khi H2 và L đang chơi bi-a thì Dương Đình S cũng có mặt ở đó, L nhờ S cầm tiền hộ để chi trả tiền thắng, thua trong quá trình chơi, S đồng ý. Mọi người chơi đến khoảng 12 giờ cùng ngày thì nghỉ đi ăn cơm, sau đó mọi người quay lại chơi tiếp, S tiếp tục cầm tiền của L để chi trả tiền thắng thua. Đến khoảng 14 giờ thì có Lê Hữu T1 đến và được H2 nhờ cầm tiền hộ để chi trả tiền thắng, thua trong quá trình đánh bạc, T1 đồng ý. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Công an thành phố P kiểm tra phát hiện. Các đối tượng đều khai nhận: Số tiền 2.000.000 đồng mà T1 giao nộp là tiền chơi bạc của H2 nhờ T1 cầm hộ và số tiền 4.200.000 đồng mà S giao nộp là tiền chơi bạc của L nhờ S cầm hộ. Khi chơi bạc, H2 mang theo 5.000.000 đồng đã dùng vào việc đánh bạc và bị thua 3.000.000 đồng, số còn lại là 2.000.000 đồng (đã bị thu giữ), L mang theo 1.200.000 đồng để đánh bạc và thắng 3.000.000 đồng, tổng số tiền có là 4.200.000 đồng (đã bị thu giữ). Số tiền dùng vào việc đánh bạc là của cá nhân H2 và L do lao động mà có. Anh Hoàng Đình T3 (chủ quán) không biết các đối tượng chơi “Bi-a” được thua bằng tiền và các đối tượng chơi “Bi-a” phải trả tiền thuê bàn cho anh T3 là 40.000 đồng/01 giờ, tuy nhiên khi đang chơi thì bị phát hiện nên các đối tượng chưa trả tiền bàn cho anh T3. Lê Hữu T1 khai nhận. Đối với số tiền 4.500.000 đồng mà T1 giao nộp cho Cơ quan điều tra là tiền của T1, không phải tiền dùng vào việc đánh bạc. Lời khai của Cao Văn L, Dương Hoàng H2, Dương Đình S và Lê Hữu T1 phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án: 10.700.000 đồng tiền ngân hàng N2, được niêm phong trong phong bì ký hiệu T; 16 quả “Bi-a” (trong đó: 15 quả được đánh số từ 01 đến 15, 01 quả màu trắng không đánh số) được niêm phong trong hộp carton ký hiệu A1; 01 bộ bài Tú lơ khơ (gồm 52 quân bài), 03 cục Lơ (đã qua sử dụng), 02 găng tay (loại 03 ngón, trong đó 01 chiếc màu xanh, 01 chiếc màu đen) được niêm phong trong hộp carton ký hiệu A2; 02 gậy bi-a (trong đó: 01 gậy màu trắng đen, trên thân gậy có chữ Dazzle color và 01 chiếc màu đen xám, trên thân gậy có chữ AILEEX) được bọc giấy kín ký hiệu A3. Toàn bộ số vật chứng này được chuyển đến tài khoản và kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Với nội dung nêu trên, tại bản cáo trạng số 141/CT-VKSPY ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Cao Văn L, Dương Hoàng H2, Dương Đình S và Lê Hữu T1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Cao Văn L, Dương Hoàng H2, Dương Đình S và Lê Hữu T1 về tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng điểm i, s, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 65, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cao Văn L từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Áp dụng Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 65, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Hoàng H2 từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Áp dụng Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 65, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Đình S từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Áp dụng Điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 65, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hữu T1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • + Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 46, 47, 48 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 6.200.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tú lơ khơ (gồm 52 quân bài), 03 cục Lơ (đã qua sử dụng), 02 găng tay (loại 03 ngón, trong đó 01 chiếc màu xanh, 01 chiếc màu đen) được niêm phong trong hộp carton ký hiệu A2; 01 gậy bi-a màu trắng đen, trên thân gậy có chữ Dazzle color được bọc giấy kín ký hiệu A3.
  • Trả lại cho anh T3 16 quả “B-a” (trong đó: 15 quả được đánh số từ 01 đến 15, 01 quả màu trắng không đánh số) được niêm phong trong hộp carton ký hiệu A1; 01 chiếc gậy bi-a màu đen xám, trên thân gậy có chữ AILEEX
  • Đối với số tiền 4.500.000 đồng thu giữ của Lê Hữu T1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo, tuy nhiên tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • + Về án phí, áp dụng Điều 136 BLTTHS buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Đình T3, người làm chứng là anh Nguyễn Việt H9, anh Phạm Quang T4 và người chứng kiến ông Hoàng Văn N1 vắng mặt. Xét thấy những người có tên trên đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người có tên trên theo quy định.

[3] Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo Cao Văn L, Dương Hoàng H2, Dương Đình S và Lê Hữu T1 tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng từ 10 giờ đến 15 giờ 40 phút ngày 11/5/2024, tại quán H10 của gia đình anh Hoàng Đình T3 thuộc tổ dân phố T, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Dương Hoàng H2 và Cao Văn L đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức “Bi - a” được thua bằng tiền, Lê Hữu T1 và Dương Đình S có hành vi giúp sức (cầm tiền và chi trả tiền thắng, thua) cho H2 và L đánh bạc. Khi các đối tượng đang thực hiện hành vi đánh bạc thì bị phát hiện và xử lý. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 6.200.000 đồng.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Cao Văn L, Dương Hoàng H2, Dương Đình S và Lê Hữu T1 đã cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định

“Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[4] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo thấy rằng:

Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, song hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng của Nhà nước. Các bị cáo tụ tập rủ nhau đánh bạc có tính chất sát phạt tiền bạc của nhau để kiếm lời, làm thiệt hại về tài sản của mình và người khác và làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, việc đưa ra xét xử là cần thiết nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung để đẩy lùi tệ nạn này ra khỏi cộng đồng.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, việc các bị cáo tham gia đánh bạc với tính chất tự phát, không có sự bàn bạc hoặc phân công vai trò cụ thể, trong khi sát phạt nhau đều tham gia tích cực nên cùng phải chịu một chế tài hình phạt do điều luật quy định. Tuy nhiên, bị cáo Dương Hoàng H2 và Cao Văn L là người trực tiếp đánh bạc, bị cáo Lê Hữu T1 và Dương Đình S có hành vi giúp sức (cầm tiền và chi trả tiền thắng, thua) cho H2 và L đánh bạc. Do vậy, vai trò của H2 và L tích cực hơn các bị cáo T1 và S.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Các bị cáo Cao Văn L, Dương Hoàng S1, Lê Hữu T1 đều chưa có tiền án, tiền sự, được xác định là người có nhân thân tốt. Đối với bị cáo Dương Hoàng H2 cũng có nhân thân cần đề cập khi lượng hình: Năm 2013 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên xử phạt 3 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Ngày 25/9/2014 thi hành xong các khoản án phí và ngày 31/8/2015 được đặc xá. Tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội lần này (ngày 11/5/2024) thì đã được xóa án tích và được coi như chưa bị kết án.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, cả 04 (bốn) bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Cao Văn L, Dương Hoàng S1, Lê Hữu T1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, bị cáo Dương Đình S có ông ngoại được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, bị cáo Dương Hoàng H2 có ông nội là dân công hỏa tuyến tham gia kháng chiến, chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế được hưởng chế độ trợ cấp nên HĐXX cho bị cáo S và bị cáo H2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này cả 04 (bốn) bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Xem xét về hình phạt cần áp dụng: Tại phiên tòa các bị cáo đều xin được hưởng án treo tuy nhiên HĐXX thấy rằng:

Đối với các bị cáo Cao Văn L, Dương Hoàng S1, Lê Hữu T1 đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, lại được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ. Đối với bị cáo Dương Hoàng H2 mặc dù trước đây đã từng bị xét xử nhưng đã chấp hành xong hình phạt. Tính đến thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này được đã được xóa án tích và được coi như chưa bị kết án. Xét thấy đây là vụ án ít nghiêm trọng, mang tính đồng phạm giản đơn, tính chất tự phát. Các bị cáo là lao động chính trong gia đình và đều có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với 04 (bốn) bị cáo mà có thể cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ sức để răn đe, giáo dục và không gây nguy hiểm cho xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên,xét thấy các bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Xử lý vật chứng: Đối với 01 bộ bài Tú lơ khơ (gồm 52 quân bài), 03 cục Lơ (đã qua sử dụng), 02 găng tay (loại 03 ngón, trong đó 01 chiếc màu xanh, 01 chiếc màu đen) được niêm phong trong hộp carton ký hiệu A2; 01 gậy bi-a màu trắng đen, trên thân gậy có chữ Dazzle color được bọc giấy kín ký hiệu A3 là công cụ các bị cáo dùng để phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 6.200.000 đồng là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 4.500.000 đồng thu giữ của Lê Hữu T1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo, tuy nhiên tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho anh T3 16 quả “B-a” (trong đó: 15 quả được đánh số từ 01 đến 15, 01 quả màu trắng không đánh số) được niêm phong trong hộp carton ký hiệu A1; 01 chiếc gậy bi-a màu đen xám, trên thân gậy có chữ AILEEX

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận

[11] Các vấn đề khác: Trong vụ án này, anh Hoàng Đình T3 là người cho các bị can thuê bàn “Bi-a” sử dụng để đánh bạc. Tuy nhiên, anh T3 không biết các bị can chơi “Bi-a” cá cược được thua bằng tiền, vì vậy Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh T3 là phù hợp.

[12] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Cao Văn L, Dương Hoàng H2, Dương Đình S và Lê Hữu T1 phạm tội “Đánh bạc”.

1. Về hình phạt:

* Về hình phạt chính:

  • - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Cao Văn L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Dương Hoàng H2 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Dương Đình S 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Lê Hữu T1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Cao Văn L cho UBND xã T, thành phố P, giao bị cáo Dương Hoàng H2 cho UBND phường B, thành phố P, giao bị cáo Dương Đình S cho UBND phường Đ, thành phố P và giao bị cáo Lê Hữu T1 cho UBND phường N, thành phố P nơi các bị cáo hiện đang cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự;

  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 6.200.000 đồng (Sáu triệu, hai trăm nghìn đồng)
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tú lơ khơ (gồm 52 quân bài), 03 cục Lơ (đã qua sử dụng), 02 găng tay (loại 03 ngón, trong đó 01 chiếc màu xanh, 01 chiếc màu đen) được niêm phong trong hộp carton ký hiệu A2; 01 gậy bi a màu trắng đen, trên thân gậy có chữ Dazzle color được bọc giấy kín ký hiệu A3;
  • - Trả lại cho bị cáo Lê Hữu T1 số tiền 4.500.000 đồng, tuy nhiên tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Trả lại cho anh Hoàng Đình T3 16 quả “B-a” (trong đó: 15 quả được đánh số từ 01 đến 15, 01 quả màu trắng không đánh số) được niêm phong trong hộp carton ký hiệu A1; 01 chiếc gậy bi-a màu đen xám, trên thân gậy có chữ AILEEX được bọc giấy kín ký hiệu A3

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 102a/QĐ-VKSPY ngày 27/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên cùng biên bản giao nhận vật chứng, giấy ủy nhiệm chi kèm theo)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Cao Văn L, Dương Hoàng H2, Dương Đình S và Lê Hữu T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung quỹ nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Phổ Yên;
  • - Công an TP. Phổ Yên;
  • - Chi cục Thi hành án TP. Phổ Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - UBND p. Ba Hàng, Đắc Sơn, Nam Tiến, Thành Công;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Minh Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HSST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về đánh bạc

  • Số bản án: 157/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Cao Văn Lương 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Dương Hoàng Hợp 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Dương Đình Sơn 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Căn cứ Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Hữu Tình 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger