Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/HSST

Ngày 20/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuyên;
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tuyên và ông Lê Sơn Tùng
  • - Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thu Trang, Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đào Xuân Đạt - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 20/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 138/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hng Trung H, sinh năm 1990; Tên gọi khác: không;

Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Đoàn Kết 2, xã Thành Long, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao Lan; Tôn giáo: không. Con ông: Hng Văn Thể, sinh năm 1968; Con bà: Hng Thị Đường, sinh năm 1965; Vợ: Trần Thị Trọng, sinh năm 1995, có 03 con lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • + Bản án số 244/2007/HSPT ngày 20/3/2007 của Toà án nhân dân Tối cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù về tội: Cướp tài sản.
  • + Bản án số 25/2016/HSST ngày 28/11/2016 của Toà án nhân dân huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 01 năm 08 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội từ ngày 04/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Nịnh Văn H, sinh năm 1994; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;

Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Đoàn Kết 2, xã Thành Long, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao Lan; Tôn giáo: không. Con ông: Nịnh Văn Trường (đã chết); Con bà: Lương Thị Bình, sinh năm 1973; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/4/2024 đến ngày 13/4/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên toà.

* Người bào chữa cho bị cáo H và bị cáo H: Ông Nguyễn Văn Linh – Trợ giúp viên pháp lý – Trrung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hà Nội. có mặt

* Người bị hại: Công ty cổ phần phát triển thương mại và tư vấn đầu tư EEC

Địa chỉ: Số 145 Nguyễn Tuân, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn Hiếu – Giám đốc

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn Thắng – Phó giám đốc, có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị Phượng, sinh năm 1984, vắng mặt
  2. Nơi cư trú: Thôn Thượng, xã Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

  3. Anh Nguyễn Văn An, sinh năm 1981, vắng mặt
  4. Nơi cư trú: Thôn Miếu Thờ, xã Tiên Dược, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

  5. Chị Nguyễn Thị Phương, sinh năm 1983, vắng mặt
  6. Nơi cư trú: Thôn Miếu Thờ, xã Tiên Dược, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

  7. Chị Nịnh Thị Thuận, sinh năm 1993, vắng mặt
  8. Nơi cư trú: TDP 3, phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân Hng Trung H, sinh năm 1990, ở thôn Đoàn Kết 2, xã Thành Long, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đi làm nghề kéo dây điện cho các hộ dân nên H biết được trong các cột điện chiếu sáng ven đường có dây cáp điện nên khoảng cuối tháng 3/2024, H nảy sinh ý định đi trộm cắp dây cáp điện để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân.

Từ ngày 21/3/2024 đến ngày 02/4/2024, Hng Trung H và Nịnh Văn Hòa, sinh 1994, trú tại thôn Đoàn Kết 2, xã Thành Long, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Sóc Sơn cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 02 giờ 0 phút, ngày 21/3/2024, H chuẩn bị 01 kìm cắt, 02 dao gấp, 01 kéo, 02 con dao dọc giấy, 01 cái ban xích (lắc tay), 01 bộ tu lơ vít lục giác, rồi một mình điều khiển xe máy Liberty màu trắng (không rõ biểm kiểm soát) từ phòng trọ của H tại Phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đến đường Võ Nguyên Giáp, thuộc địa phận xã Mai Đình, Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Sau đó, H đến các cột đèn CS1/41C và CS1/43A, H dùng tua vít mở nắp cột đèn, sau đó dùng kìm cắt đứt đoạn dây cáp bên trong các cột điện rồi lấy ban xích để kéo đoạn dây cáp điện đã bị cắt đứt. H trộm cắp được đoạn dây cáp dài khoảng 32 m, H cắt ra làm đôi rồi cuộn lại đem về bán cho Nguyễn Thị Phượng, sinh năm 1984, trú tại thôn Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh với giá được 1.800.000 đồng, H tiêu sài cá nhân hết.

Vụ thứ hai:

Ngày 25/3/2024, H nhắn tin rủ Nịnh Văn Hòa đi trộm dây cáp điện, Hòa đồng ý. Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, Hòa điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu đỏ đen, (không rõ Biển kiểm soát), của chị gái Hòa tên là Nịnh Thị Thuận, sinh năm 1993, trú tại phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, đi từ nhà trọ tại phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đến phòng trọ của H tại phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh để đi trộm cắp tài sản. Sau đó, H cất 01 kìm cắt, 02 dao gấp, 01 kéo, 02 con dao dọc giấy, 01 cái ban xích (lắc tay), 01 bộ tu lơ vít lục giác vào trong ba lô. Hòa điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvo màu đỏ đen, H điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Dream BKS: 98Y5 - 4900 đi theo hướng đường 18 đến đường Võ nguyên Giáp, thuộc địa phận xã Mai Đình huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội. H dừng xe ở dìa đường. H đi đến vị trí bụi cỏ lấy 01 kìm dài 50 cm, màu đen và 01 thanh sắt hình chữ V dài 1m mà H đã cất dấu sẵn từ trước. H cầm kìm và thanh sắt đi đến vị trí các cột đèn số CS1/44A và CS1/42C và CS1/40B, Hòa đứng ven đường cảnh giới. H dùng thanh sắt hình chữ V đào đất ở chân các cột đèn, rồi kéo dây điện ra, dùng kìm cắt đứt dây cáp điện ở bên trong, buộc đầu dây cáp vào bộ tăng cáp. H và Hòa kéo dây cáp điện ra được 02 đoạn mỗi đoạn dài 32m, tổng được 64 m. Rồi cuộn lại được 02 cuộn dây cáp điện, H và Hòa mỗi người chở một cuộn dây cáp mang đến cửa hàng mua bán phế liệu của chị Nguyễn Thị Phượng để bán. Khi đến nơi thì H đem các cuộn dây cáp điện vào bán cho chị Phượng, Hòa đứng chờ bên ngoài. Do dây cáp vẫn còn vỏ nên chị Phượng chỉ tính 60% là đồng, với giá 180.000 đồng/kg và trả cho H 7.560.000 đồng. Sau khi bán xong, H và Hòa cùng về trọ của H, H chia cho Hòa 3.000.000 đồng, Số tiền còn lại thì H giữ. Số tiền này H và Hòa đã tiêu sài cá nhân hết.

Vụ thứ ba:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 26/3/2024, H gọi điện cho Hòa xuống phòng trọ của H để tiếp tục đi trộm cắp. Sau đó, Hòa điều khiển chiếc xe máy Yamaha Exciter, màu xám BKS: 99H1 – 156.39, H điều khiển xe máy nhãn hiệu Dream, BKS: 98Y5 – 4900 mang theo 01 balo bên trong có các công cụ để đi trộm cắp từ lần trước. Cả hai đi theo đường 18 đến khu vực đường Võ Nguyên Giáp thuộc địa phận Sóc Sơn, TP Hà Nội. H cầm theo balo đến cột đèn từ số CS2/116C đến CS2/118A, CS2/118A đến CS2/120B, CS2/120B đến CS2/122C. Hòa dừng xe cảnh giới, H và Hòa đã trộm được 03 đoạn cáp, mỗi đoạn dài 32 m, tổng được 96m dây cáp. Hòa dùng dao dọc giấy tách vỏ nhựa ra để lấy lõi dây đồng, rồi cuộn lại. Sau đó, Hòa điều khiển xe máy chở 01 cuộn, H điều khiển xe máy chở 02 cuộn đi đến cửa hàng phế liệu của anh Nguyễn Văn An, sinh năm 1981, trú tại Miếu Thờ, xã Tiên Dược, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội, bán cho anh An giá 180.000 đồng/1kg. H bán 03 cuộn dây cáp được số tiền 14.040.000 đồng, nhưng anh An chỉ trả 14.000.000 đồng, H chia cho Hòa số tiền 4.500.000 đồng, H được 9.500.000 đồng. Số tiền này H và Hòa đã tiêu sài cá nhân hết.

Vụ thứ tư:

Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 01/4/2024, H mang theo dụng cụ trộm dây cáp điện cho vào balo, điều khiển xe Dream BKS: 98Y5 - 4900 từ phòng trọ của H đến khu vực Võ Nguyễn Giáp thuộc địa phận xã Mai Đình huyện Sóc Sơn, Hà Nội. H đi đến cột đèn số CS1/44A đến CS1/46B. H cắt trộm được 32 m dây cáp điện, rồi mang đến bán cho anh An được 4.140.000 đồng. Do trước đó H còn nợ anh An 1.400.000 đồng nên anh An chỉ đưa cho H số tiền 2.700.000 đồng. Số tiền này H đã tiêu sài cá nhân hết.

Vụ thứ năm:

Khoảng 03 giờ ngày 02/4/2024, H điều khiển xe máy Dream BKS: 98Y5 – 4900 đi từ phòng trọ đến khu vực đường Võ Nguyên Giáp, thuộc địa phận xã Mai Đình, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội để trộm dây cáp điện. H dùng thanh sắt chữ V đào xuống dưới cột CS1/41 C và điểm cách cột CS1/41 C 20 m theo hướng từ cột CS1/41C hướng về cột CS1/39B), H cắt được 20 m dây cáp điện, mang về phòng trọ rồi dùng dao dọc giấy tách lấy lõi đồng bên trong. Buổi sáng cùng ngày, H mang bán cho chị Nguyễn Thị Phượng được số tiền 1.470.000 đồng. Số tiền này H đã tiêu sài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 79/KL – HĐ ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng huyện Sóc Sơn kết luận:

  • - 32 m dây cáp điện nhãn hiệu CADISUN, loại Cáp 0,6/1kV – Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4X25 mm2 tại vị trí cột đèn chiếu sáng số CS1/44A đến cột đèn sáng CS1/46B có giá trị 7.971.776 đồng.
  • - 32 m dây cáp điện nhãn hiệu CADISUN, loại Cáp 0,6/1kV – Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4X25 mm2 tại vị trí cột đèn chiếu sáng số CS1/41C đến cột đèn sáng CS1/43A có giá trị 7.971.776 đồng
  • - 64 m dây cáp điện nhãn hiệu CADISUN, loại Cáp 0,6/1kV – Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4X25 mm2 tại vị trí cột đèn chiếu sáng số CS1/40B đến cột đèn sáng CS1/44A có giá trị 15.943.552 đồng
  • - 20 m dây cáp điện nhãn hiệu CADISUN, loại Cáp 0,6/1kV – Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4X25 mm2 tại vị trí cột đèn chiếu sáng số CS1/41C đến điểm cách cột đèn CS/41C 20m hướng về cột đèn CS1/39B có giá trị 4.982.360 đồng

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 148/KL – HĐ ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng huyện Sóc Sơn kết luận:

  • - 96 m dây cáp điện nhãn hiệu CADISUN, loại Cáp 0,6/1kV – Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4X25 mm2 tại vị trí cột đèn chiếu sáng số CS2/118A, CS2/118A đến CS2/120B, CS2/120B đến CS2/122C có giá trị 23.915.328 đồng

Vật chứng tạm giữ, xử lý vật chứng:

Cơ quan CSĐT tạm giữ của Hng Trung H: 01 bộ tua vít lục giác, 01 kéo, 01 kìm cắp cáp, 01 bộ tăng cáp, 02 dao dọc giấy, 02 dao gấp, 01 con dao, 01 balo, 2,8kg dây kim loại, 01 xe máy nhãn hiệu Dream mang BKS 98Y5 – 4900, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo. Tạm giữ của Nịnh Văn Hòa: 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo, 01 xe máy Yamaha Exciter, BKS: 99H1 – 156.39.

Đối với 01 chiếc xe máy Yamaha Exciter, BKS: 99H1 – 156.39 tạm giữ của Nịnh Văn Hòa, quá trình điều tra xác định: Chiếc xe máy là của chị Nịnh Thị Thuận, chị Thuận cho mượn làm phương tiện đi lại, chị Thuận không biết việc Hòa sử dụng chiếc xe máy để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Nịnh Thị Thuận.

Toàn bộ số vật chứng còn lại được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn để xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Tại bản cáo trạng số 128/CT-VKS ngày 26/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố các bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo nội dung bản cáo trạng; sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự;
  • + Xử phạt Hng Trung H từ 30 đến 36 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;
  • + Xử phạt Nịnh Văn H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty cổ phần phát triển thương mại và tư vấn đầu tư EEC yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền theo định giá tài sản là 60.784.792 đồng. Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường số tiền trên theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ tua vít lục giác, 01 kéo, 01 kìm cắp cáp, 01 bộ tăng cáp, 02 dao dọc giấy, 02 dao gấp, 01 con dao tách dây điện, 01 balo, 2,8 kg dây kim loại.
  • + Tịch thu sung quỹ: 01 xe máy nhãn hiệu Dream mang BKS 98Y5 – 4900, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh, 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu hồng.
  • + Trả lại bị cáo H 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu xanh.

Các bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến về tội danh và tình tiết tăng nặng, đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Đối với bị cáo H áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội do lạc hậu, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống thuộc vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan điều tra theo điểm m, s, t khoản 1 và khoản 2 Bộ luật hình sự; đối với bị cáo H áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện bồi thường khắc phục một phần hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội do lạc hậu, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống thuộc vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan điều tra theo điểm b, i, m, s, t khoản 1 và khoản 2 Bộ luật hình sự. Từ những phân tích trên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu,chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đầy đủ cơ sở để xác định: Do cần tiền tiêu sài, từ ngày 25/3/2024 đến ngày 26/3/2024, tại tuyến đường Võ Nguyên Giáp thuộc địa phận huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Hng Trung H và Nịnh Văn Hòa đã trộm cắp tài sản các lần như sau:

  • Ngày 25/3/2024, Hng Trung H và Nịnh Văn Hòa trộm cắp 02 cuộn dây cáp điện với tổng 64m dây cáp điện, giá trị 15.943.552 đồng.
  • Ngày 26/3/2024, Hng Trung H và Nịnh Văn Hòa trộm cắp 03 cuộn dây cáp điện, tổng chiều dài 96m, giá trị 23.915.328 đồng.

Ngoài ra, từ ngày 21/3/2024 đến ngày 02/4/2024, tại tuyến đường Võ Nguyên Giáp thuộc địa phận huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Hng Trung H còn một mình thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản khác như sau:

  • Ngày 21/3/2024, Hng Trung H trộm cắp 01 cuộn dây cáp dài 32m dây cáp điện, giá trị 7.971.776 đồng.
  • Ngày 01/4/2024, Hng Trung H trộm cắp 01 cuộn dây cáp điện dài 32m, giá trị 7.971.776 đồng.
  • Ngày 02/4/2024, Hng Trung H trộm cắp 20m dây cáp điện, giá trị 4.982.360 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà H trộm cắp là 60.784.792 đồng; Tổng giá trị tài sản mà Hòa cùng H trộm cắp là 39.858.880 đồng.

Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Hng Trung H đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Nịnh Văn H đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây thiệt hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội và sự bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân tại địa phương.

Tuy nhiên khi lượng hình đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tình tiết tăng nặng:

Các bị cáo phạm tội nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nhận thức được hành vi sai trái của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, bị cáo H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả nên được áp dụng điểm b, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; các bị cáo là người dân tộc thiểu số (Cao Lan) tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, tại phiên toà người bị hại đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo H nên cần áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự chiếu cố giảm nhẹ cho các bị cáo một phần về hình phạt thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.

Về nhân thân:

Bị cáo H có nhân thân tốt.

Bị cáo H đã hai lần bị đưa ra xét xử tại các bản án: Bản án số 244/2007/HSPT ngày 20/3/2007 của Toà án nhân dân Tối cao tại Hà Nội xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù về tội: Cướp tài sản; Bản án số 25/2016/HSST ngày 28/11/2016 của Toà án nhân dân huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo 01 năm 08 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Mặc dù cả hai bản án này đã được xoá điều đó thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, coi thường pháp luật.

Về tính chất mức độ phạm tội:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo H là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội và lôi kéo bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức. Do đó bị cáo H phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo H.

Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần cách ly các bị cáo H ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Bị cáo H tuy có một tình tiết tăng nặng nhưng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên không cần thiết phải cách lý bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.

Đối với người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng do các bị cáo có một tình tiết tăng nặng nên không được chấp nhận.

Đối với chị Nguyễn Thị Phượng và anh Nguyễn Văn An: Quá trình điều tra, xác định: Những lần mua dây cáp điện, chị Phượng và anh An không biết đây là tài sản do H và Hòa trộm cắp được nên không có căn cứ xử lý về hình sự đối với chị Nguyễn Thị Phượng, anh Nguyễn Văn An.

[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, khó khăn về kinh tế nên miễn hình phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Công ty cổ phần phát triển thương mại và tư vấn đầu tư EEC yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền theo định giá tài sản là 60.784.792 đồng. Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho Công ty cổ phần phát triển thương mại và tư vấn đầu tư EEC tổng số tiền là 60.784.792 đồng (Sáu mươi triệu bẩy trăm tám mươi bốn nghìn bẩy trăm chín hai đồng). Trong đó bị cáo Hng Trung H phải bồi thường cho Công ty cổ phần phát triển thương mại và tư vấn đầu tư EEC số tiền là 40.855.352 đồng (Bốn mươi triệu tám trăm lăm mươi năm nghìn ba trăm năm hai đồng); bị cáo Nịnh Văn H phải bồi thường cho Công ty cổ phần phát triển thương mại và tư vấn đầu tư EEC số tiền là 19.929.440 đồng (Mười chín triệu chín trăm hai chín nghìn bốn trăm bốn mươi đồng), bị cáo đã nộp 10.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án huyện Sóc Sơn theo biên lai số 0022657 ngày 13/8/2024, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường 9.929.440 đồng. Tại phiên toà các bị cáo đều đồng ý bồi thường nên ghi nhận.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ tua vít lục giác, 01 kéo, 01 kìm cắp cáp, 01 bộ tăng cáp, 02 dao dọc giấy, 02 dao gấp, 01 con dao tách dây điện, 01 balo, 2,8 kg dây kim loại.
  • + Tịch thu sung quỹ: 01 xe máy nhãn hiệu Dream mang BKS 98Y5 – 4900, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu hồng.
  • + Trả lại bị cáo H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh.

[7] Các vấn đề khác:

  • + Về án phí: Các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, các bị cáo được miễn tiền án phí.
  • + Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:

Bị cáo Hng Trung H và bị cáo Nịnh Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

  • + Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt Hng Trung H 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/09/2022 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
  • Xử phạt Nịnh Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nịnh Văn H cho UBND xã Thành Long, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của luật thi hành án hình sự 2019.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo” theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và điều 93 của luật thi hành án hình sự 2019.

Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 468, 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự;

Buộc bị cáo Hng Trung H phải bồi thường cho Công ty cổ phần phát triển thương mại và tư vấn đầu tư EEC số tiền là 40.855.352 đồng (Bốn mươi triệu tám trăm lăm mươi năm nghìn ba trăm năm hai đồng); bị cáo Nịnh Văn H phải bồi thường cho Công ty cổ phần phát triển thương mại và tư vấn đầu tư EEC số tiền là 9.929.440 đồng (Chín triệu chín trăm hai chín nghìn bốn trăm bốn mươi đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty cổ phần phát triển thương mại và tư vấn đầu tư EEC có đơn yêu cầu thi hành án, thì các bị cáo còn phải trả cho Công ty cổ phần phát triển thương mại và tư vấn đầu tư EEC số tiền lãi theo mức lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương đương với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm chậm trả.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 89; 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ tua vít lục giác, 01 kéo, 01 kìm cắp cáp, 01 bộ tăng cáp, 02 dao dọc giấy, 02 dao gấp, 01 con dao tách dây điện, 01 balo, 2,8 kg dây kim loại.
  • + Tịch thu sung quỹ: 01 xe máy nhãn hiệu Dream mang BKS 98Y5 – 4900, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu hồng.
  • + Trả lại bị cáo Hng Trung H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh.

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/8/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

5. Về án phí:

Áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”: Miễn toàn bộ án phí cho các bị cáo.

6. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhân:

  • - VKSND H.Sóc Sơn;
  • - VKSND TP.Hà Nội;
  • - TAND TP.Hà Nội;
  • - Công an huyện Sóc Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn;
  • - Người tham gia tố tụng
  • - L-u HS - VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HSST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 157/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm dây điện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger