Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 157/2024/HS-ST

Ngày: 19/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thu Hà

Bà Nguyễn Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thúy - Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 159/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm: 1987, tại Đồng Nai;

Tên gọi khác: T1

Đăng ký thường trú: ấp H, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai;

Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Trần Văn S - sinh năm 1951 và bà Dương Thị L - sinh năm 1954;

Vợ: Nguyễn Thị Kim T2 – sinh năm 1990 (đã ly hôn)

Con: có 01 con sinh năm 2010;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 27/02/2014 bị Tòa án nhân dân Thị xã Long Khánh (nay là thành phố L) xử phạt 07 (B) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 07/2014/HSST. Ngày 04/01/2019 chấp hành xong hình phạt tù và đã đóng án phí theo quy định.

Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang vào ngày 03/5/2024 và bị tạm giam cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người làm chứng: Trần Văn S, sinh năm: 1951 (vắng mặt)

Điiaj chỉ: ấp H, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn T là đối tượng nghiện ma túy nên vào khoảng 19 giờ 30 phút, T đã gọi điện thoại cho 01 đối tượng tên T3 (không rõ nhân thân lai lịch) để mua ma túy. T3 đã hẹn T đến khu vực đường ray xe lửa thuộc phường X, thành phố L để giao dịch. Tại đây, T3 đã bán cho T 01 bịch có chứa 05 đoạn ống hút nhựa màu trắng, bên trong có các hạt tinh thể màu trắng, hàn kín, là ma túy đá với giá tiền 1.500.000 đồng.

Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, tại nhà ông Trần Văn S (cha ruột của T), T đã lấy ma túy ra sử dụng rồi cất giấu số ma túy còn lại dưới ghế ngồi đặt tại phòng khách. Đến 10 giờ ngày 03/5/2024, Công an xã B tiến hành kiểm tra và phát hiện, bắt quả tang T có hành vi cất giấu 01 bịch có chứa 05 đoạn ống hút nhựa màu trắng, bên trong có các hạt tinh thể màu trắng, hàn kín (gồm 01 đoạn ống nhựa kích thước 1 cm x 4,5cm và 04 đoạn ống nhựa kích thước 1cm x 2,5cm). T khai nhận là ma túy đá, tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân. Công an xã B đã tiến hành niêm phong và bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X xử lý theo quy định.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể thì T dương tính với ma túy đá.

* Tại Kết luận giám định số 927/KL-KTHS ngày 09/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 1,3947 gam, loại Methamphetamine.

* Vật chứng thu giữ: 01 đoạn ống nhựa kích thước 1 cm x 4,5cm hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 04 đoạn ống nhựa kích thước 1cm x 2,5cm hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 bình thủy tinh có gắn nỏ thủy tinh; 01 cân điện tử màu trắng – đỏ; 01 điện thoại di động hiệu S1 J4, màu đen, gắn sim số 0927.515.835.

* Tại bản Cáo trạng số: 167/CT-VKSXL ngày 01 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố bị cáo Trần Văn T (T1) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Văn T (T1) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Không.

- Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về điều luật áp dụng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; Điều 38; điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Về mức hình phạt: đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T (T1) từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn ống nhựa kích thước 1 cm x 4,5cm hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 04 đoạn ống nhựa kích thước 1cm x 2,5cm hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 bình thủy tinh có gắn nỏ thủy tinh; 01 cân điện tử màu trắng – đỏ;, 01 sim số 0927.515.835.

+ Đề nghị tịch thu sung công: 01 điện thoại di động hiệu S1 J4, màu đen.

* Người làm chứng vắng mặt, không tham dự phiên tòa nên Tòa án tiến hành công bố lời khai.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, cơ quan điều tra Công an huyện X, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 10 giờ ngày 03/5/2024, tại nhà ông Trần Văn S (cha ruột của bị cáo T), Công an xã B đã bắt quả tang Trần Văn T có hành vi cất giấu 01 bịch có chứa 05 đoạn ống hút nhựa màu trắng, bên trong có các hạt tinh thể màu trắng, hàn kín (gồm 01 đoạn ống nhựa kích thước 1 cm x 4,5cm và 04 đoạn ống nhựa kích thước 1cm x 2,5cm). T khai nhận là ma túy đá, tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân. Tại Kết luận giám định số 927/KL-KTHS ngày 09/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (thu giữ của T) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 1,3947 gam, loại Methamphetamine. Hành vi của Trần Văn T (T1) đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy; làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng vì đã nghiện ma túy 12 năm, không chịu tu dưỡng, sửa chữa bản thân mà tiếp tục trượt dài trên con đường phạm tội. Ngày 27/02/2014 bị cáo T bị Tòa án nhân dân Thị xã Long Khánh (nay là thành phố L) xử phạt 07 (B) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 07/2014/HSST; ngày 04/01/2019 chấp hành xong hình phạt tù nhưng vẫn không thể cai nghiện. Do đó cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian cai nghiện.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với đối tượng tên T3, người đã bán ma túy cho T do chưa rõ nhân thân, lai lịch nên tiếp tục xác minh để xử lý sau.

[6] Về xử lý vật chứng:

+ Đối với: 01 đoạn ống nhựa kích thước 1 cm x 4,5cm hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 04 đoạn ống nhựa kích thước 1cm x 2,5cm hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 bình thủy tinh có gắn nỏ thủy tinh; 01 cân điện tử màu trắng – đỏ;, 01 sim số 0927.515.835, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu S1 J4, màu đen: là tài sản hợp pháp của T nhưng T dùng vào giao dịch mua ma túy với T3 nên cần tịch thu sung công

Hiện các tang vật này đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc.

[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, khung điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt dành cho bị cáo: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự.

* Tuyên bố: bị cáo Trần Văn T (T1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Xử phạt: bị cáo Trần Văn T (T1) - 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.

- Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn ống nhựa kích thước 1 cm x 4,5cm hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 04 đoạn ống nhựa kích thước 1cm x 2,5cm hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 bình thủy tinh có gắn nỏ thủy tinh; 01 cân điện tử màu trắng – đỏ; 01 sim số 0927.515.835.

+ Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động hiệu S1 J4, màu đen.

Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc đang tạm giữ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/8/2024.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Văn T (T1) phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND. T. Đồng Nai;
  • - VKSND T. Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp T. Đồng Nai;
  • - Công an H. Xuân Lộc;
  • - VKSND H. Xuân Lộc;
  • - Chi cục THADS H. Xuân Lộc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Lưu AV, HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 157/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger