Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 157/2023/HSST

Ngày: 17/11/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Hợp

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đinh Văn Hải
  2. Ông Long Văn Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Trường Long - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm trực tuyến giữa điểm cầu trung tâm là Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an thành phố C; vụ án hình sự thụ lý số: 140/2023/TLST-HS ngày 12/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2023/QĐXXST-HS ngày 03/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Văn C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 29/4/1984 tại: huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nơi thường trú: thôn C, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: thôn C, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 04/12 phổ thông; Con ông: Lưu Văn T - sinh năm 1947 (trú tại: thôn C, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk); con bà Hoàng Thị Y - sinh năm 1950 (trú tại: xã N, huyện T, tỉnh Cao Bằng); Có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Hoàng Thị H - sinh năm 1985 (trú tại: thôn C, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk); có 03 con, con cả sinh năm 2005, con út sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố C từ ngày 22/6/2023 đến nay; Có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05h ngày 21/6/2023, Lưu Văn C (sinh ngày 29/4/1984; trú tại: thôn C, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk) đi xe khách từ Đắk Lắk về thăm quê tại xã N, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Đến khoảng 11h ngày 22/6/2023, C đến Bến xe khách cũ thuộc tổ B, phường S, thành phố C để chờ xe đi huyện T. Khi đang ngồi uống nước, khoảng 11h30 phút ngày 22/6/2023 có 01 người đàn ông lạ mặt đến hỏi Cung "có mua ma túy để dùng không?", C trả lời “có” rồi đưa cho người đó 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Người đàn ông nhận tiền rồi điều khiển xe mô tô chở C đi lên đường Võ Nguyên G, khi đi cách cầu S khoảng 01 km thì người đàn ông dừng xe lại và đưa cho C 01 (một) bao thuốc lá, bên trong có chứa 01 (một) gói nhỏ giấy bạc Heroine rồi đi. Cung cất gói H1 vào túi áo ngực, vứt vỏ bao thuốc lá rồi đi bộ đến khu vực tổ A, phường S tìm nơi sử dụng thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang hồi 12h10' ngày 22/6/2023, thu giữ 01 (một) gói nhỏ giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột có khối lượng 0,12g (không phẩy mười hai gam) trong túi áo ngực; 01 (một) điện thoại di động mặt trước và sau có chữ Nokia, màu đen, số Seri: 355848091374846 đã qua sử dụng.

Ngày 22/6/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 226 đối với vật chứng của vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 320/KL-KTHS ngày 28/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine.”

Hành vi của Lưu Văn C đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 143/CT-VKSTP ngày 12/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Lưu Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố nhất trí với trọng lượng ma túy bị thu giữ và Kết luận giám định số 320/KL-KTHS ngày 28/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh C. Bị cáo không khiếu nại, không có ý kiến với các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố, xác định bị cáo tàng trữ 0,12g (không phẩy mười hai gam) heroine để sử dụng, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) đến 13 (mười ba) tháng tù, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý tài sản tạm giữ: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động mặt trước và sau có ghi chữ Nokia, màu đen, số seri: 355848091374846 vì không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; khi nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện và các tài liệu chứng cứ thu thập được đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lưu Văn C đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 22/6/2023 tại đường V, thành phố C, Lưu Văn C mua 01 gói heroine giá 200.000đ với một người đàn ông tại khu vực đường E, phường S để sử dụng, nhưng vừa nhận gói ma túy đang đi tìm địa điểm để sử dụng thì khoảng 12h10 phút cùng ngày bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố C bắt quả tang tại khu vực tổ A, phường S, thành phố C với 01 gói heroine trọng lượng 0,12g (Không phẩy mười hai gram) trong túi áo.

Bị cáo nhận thức được tác hại của chất ma túy, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Lưu Văn C đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện, tính chất của hành vi phạm tội là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự xã hội ở địa phương, tiếp tay cho tệ nạn ma túy và làm phát sinh nhiều tội phạm khác nên cần phải đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo tàng trữ 0,12 gram Heroine nên bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

[5] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo

thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về hình phạt: Xét nhân thân, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng có đủ căn cứ áp dụng hình phạt tù ở mức khởi điểm của khung hình phạt là tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, đủ nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người lao động phổ thông, thu nhập không ổn định nên không nhất thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về nguồn gốc số ma túy: Lưu Văn Cung khai mua với một người đàn ông không quen biết tại khu vực bến xe khách cũ thuộc phường S, thành phố C. Cơ quan Cảnh sát điều tra vẫn đang tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác.

[8] Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ:

  • Ma túy là chất nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.
  • 01 (một) điện thoại di động màu đen (loại bàn phím) mặt trước và sau có ghi chữ Nokia thu giữ của bị cáo là điện thoại đã cũ, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng bị cáo khai không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Lưu Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[10] Các ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lưu Văn C.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  3. Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn C 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 22/6/2023.
  4. Về vật chứng, tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  5. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi: “Số 320/KL-KTHS. H2 lại mẫu sau giám định vụ Lưu Văn C có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 22/6/2023” (Kèm theo Kết luận giám định số 320/KL 28/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh C);

    Tịch thu tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động màu đen (loại bàn phím) mặt trước và sau có ghi chữ N, có số Seri: 355848091374846, điện thoại cũ đã qua sử dụng;

    Xác nhận: Vật chứng và tài sản trên đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên bản giao, nhận vật chứng số 04 ngày 16/10/2023.

  6. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
  7. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lưu Văn C có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Hợp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 157/2023/HSST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 157/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger