|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 157/2024/HS-ST Ngày 17 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hương Linh
Ông Bùi Đức Nhân
- Thư ký phiên toà tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; tại điểm cầu thành phần: Bà Phạm Thị L - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa tại Điểm cầu trung tâm: Bà Đoàn Thu T - Kiểm sát viên; tại Điểm cầu thành phần: Ông Trần Anh L1 - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm hội trường xét xử số 1 - Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và Đ cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 146/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T1; sinh ngày 30 tháng 12 năm 1988, tại tỉnh Hải Dương; Nơi thường trú: thôn V, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương; nơi ở hiện tại: thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Bùi Thị S; có vợ là Bùi Thị H, có 02 con;
Tiền án: Bản án số 128/2023/HS – ST ngày 26/5/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 07/02/2024, chấp hành xong hình phạt tù về địa phương.
Tiền sự: ngày 16/6/2023, bị Công an quận B, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản ngày 13/3/2023 tại phường N, quận B, Hà Nội;
Nhân thân: ngày 26/11/2019, bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 14/01/2020, chấp hành xong hình phạt tù, ngày 28/02/2023 thi hành xong phần án phí của bản án.
Bị cáo đầu thú ngày 30/3/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q.
- Bị hại: Chị Lại Thị Minh T3, sinh năm 1988; nơi cư trú: tổ H, khu C, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1984; nơi cư trú: xóm D, T, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do thiếu tiền chi tiêu nên Nguyễn Văn T1 bắt xe khách đi từ thành phố Hải Phòng đến Bệnh viện S1, tỉnh Quảng Ninh để xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khoảng 22 giờ ngày 26/3/2024, bị cáo đến bệnh viện, do còn sớm nên bị cáo đi lang thang xung quanh khu vực này để quan sát. Đến khoảng 01 giờ 50 phút, ngày 27/3/2024, T1 đi vào trong khu nhà D của bệnh viện S1 và đi cầu thang bộ lên trên tầng 4 của toà nhà. Khi đi đến đoạn giữa hành lang tầng 4 thì T1 thấy chị Lại Thị Minh T3 (là y tá của bệnh viện) đang nằm ngủ trên giường gấp kê cạnh tường, bên dưới một chiếc bảng màu trắng, trên đầu giường có để 01 chiếc điện thoại di động Iphone 15 promax, 256GB, màu ghi. Tôn đi nhẹ lại gần, lấy chiếc điện thoại cất vào trong túi quần rồi bỏ đi. Sau đó, T1 đón xe khách đi về Hải Phòng. Trong lúc ngồi trên xe, T1 mở chiếc điện thoại ra thử nhập mật khẩu là số “999999” thì mở được khóa nên T1 đã thoát tài khoản Icloud cũ trong điện thoại ra, lắp thẻ sim điện thoại số 0969.278.xxx (đăng ký tên Nguyễn Văn T1) vào chiếc điện thoại đã để sử dụng. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, T1 xuống xe tại khu vực Quán T, Hồ N, Hải Phòng thì nhìn thấy cửa hàng Đ1 đã mở cửa nên T1 đi vào để bán chiếc điện thoại. Do điện thoại không bị khóa và T1 nói là điện thoại của mình nên chủ cửa hàng là chị Nguyễn Thị Thu H1 đồng ý mua với giá 26.700.000 đồng. Sau khi bán điện thoại thì T1 đi thẳng về nhà trọ của mình tại thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng. Số tiền bán điện thoại, T1 đã ăn tiêu hết. Sau khi bị mất điện thoại, chị T3 kiểm tra camera bệnh viện và kiểm tra
icloud của mình thì phát hiện sim số điện thoại +84969278944 được lắp vào điện thoại và kiểm tra số điện thoại này thì được đăng ký zalo tên “Tôn Vinh Hoa Thu”, nên chị T3 đã đến cơ quan Công an trình báo.
Ngày 30/3/2024, Nguyễn Văn T1 đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo giao nộp: 01 chiếc áo phông ở phần ngực trái có in logo và chữ Versace, phần hai vai áo và hai tay áo có họa tiết hoa văn màu vàng, phần cổ áo có họa tiết sáng màu, phía trước bên phải áo có in chữ Versace, đã qua sử dụng; 01 quần bò màu sáng màu; 01 đôi giày sáng màu, loại giày bảo hộ lao động, đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ lưỡi chai màu xanh xám, phần lưỡi chai có đính chữ NS 1996, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, vỏ màu xanh, số Imei 1: 868038050219618, số Imei 2: 868038050219600; bên trong có gắn 01 sim điện thoại số 0969.278.xxx, số seri: 8984048000933043179, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 54/KLĐGTS ngày 30/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, kết luận: giá trị của 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax, 256GB, màu ghi, số Imei: 350091871120460, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 29.261.000₫ (Hai mươi chín triệu hai trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
Bản Cáo trạng số 2028/CT-VKSHL ngày 15/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo;
Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo phông đã qua sử dụng; 01 quần bò màu sáng màu; 01 đôi giày sáng màu, loại giày bảo hộ lao động, đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ lưỡi chai màu xanh xám, phần lưỡi chai có đính chữ NS 1996, đã qua sử dụng do Nguyễn Văn T1 giao nộp.
Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, vỏ màu xanh, số Imei 1: 868038050219618, số Imei 2: 868038050219600; bên trong có gắn 01 sim điện thoại số 0969.278.xxx, số seri: 8984048000933043179, đã qua sử dụng
Về trách nhiệm dân sự: bị hại chị Lại Thị Minh T3 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị Thu H1 đã nhận lại số tiền 26.700.000 đồng là số tiền đã trả cho bị cáo khi mua điện thoại, chị H1 không yêu cầu bị cáo phải trả bất cứ khoản tiền nào khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
* Tại cơ quan điều tra và trong Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại chị Lại Thị Minh T3 có lời khai: vào ngày 26/3/2024, chị có trực đêm tại tầng 4 - Bệnh viện S1. Khoảng 01 giờ ngày 27/3/2024, chị kê giường gấp ngủ ở phòng giao ban tầng 4. Khi ngủ, chị để 01 chiếc điện thoại Iphone 15 Promax, 256GB, màu ghi ở đầu giường cạnh người chị. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày chị thức dậy thì phát hiện điện thoại bị mất. Chị có kiểm tra camera của Bệnh viện phát hiện có ghi lại hình ảnh một người đàn ông đội mũ lưỡi chai, bịt khẩu trang đi vào hành lang tầng 4 và ngó vào từng phòng. Sau sự việc, chị T3 có đăng nhập vào tài khoản icloud của mình thì phát hiện có số điện thoại +084969278944 lắp vào điện thoại của chị. Đồng thời, chị kiểm tra thì thấy số điện thoại trên được đăng ký zalo với tên “Tôn Vinh Hoa Thu”. Chị T3 đã trình báo sự việc với cơ quan Công an và sau đó xác định được bị cáo T1 là người trộm cắp điện thoại của chị. Đến nay, chị T3 đã nhận lại được tài sản, chị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác; về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị Thu H1 có lời khai tại quá trình điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo về việc bị cáo Nguyễn Văn T1 có vào cửa hàng điện thoại “Ánh Dương” của chị tại phường Q, quận H, thành phố Hải Phòng bán cho chị 01 điện thoại Iphone 15 Promax, 256GB, màu ghi vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 27/3/2024 với giá 26.700.000 đồng. Bị cáo khai đó là tài sản của bị cáo, chị không biết đây là tài sản bị cáo trộm cắp mà có. Chị H1 đã tự nguyện giao nộp lại điện thoại trên cho cơ quan điều tra để trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Đối với số tiền 26.700.000 đồng, chị H1 đã được nhận lại đầy đủ từ người nhà của bị cáo. Tại cơ quan điều tra và trong Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị H1 không đề nghị bị cáo phải trả cho chị thêm bất cứ khoản tiền nào khác.
* Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. T1 khai không bàn bạc với ai về việc trộm cắp tài sản, cũng không có ai thực hiện hành vi trộm cắp cùng T1. Khi mang tài sản trộm cắp được đi bán cho chị H1, T1 nói đó là tài sản của cá nhân T1. Chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A54, vỏ màu xanh, bên trong có gắn 01 sim điện thoại số 0969.278.xxx, đã qua sử dụng, bị cáo tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra là dùng để liên lạc với gia đình, không liên quan đến việc phạm tội. Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của
Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội và không có quan điểm tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt, bị cáo hứa quyết tâm sửa chữa, tu dưỡng bản thân làm một người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về tội danh: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, Biên bản khám nghiệm hiện trường, các Bản ảnh, Biên bản nhận dạng, Biên bản làm việc và tài liệu lưu trữ video ghi lại hình ảnh đối tượng trộm cắp tài sản, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, công bố công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ của vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để xác định: khoảng 01 giờ 50 phút, ngày 27/3/2024, tại tầng 4 – nhà D – Bệnh viện S1, Quảng Ninh thuộc tổ A, khu M, phường Đ, thành phố H, Nguyễn Văn T1 đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax, 256GB, màu ghi, số Imei: 350091871120460, trị giá 29.261.000₫ (Hai mươi chín triệu hai trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) của chị Lại Thị Minh T3.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm một cách cố ý, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Đại diện Viện kiểm sát kết luận tại phiên tòa là có căn cứ.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo
Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân xấu, nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đã bị xử phạt vi phạm hành chính, cũng như đã đi chấp hành án phạt tù về hành vi này nhưng tiếp tục phạm tội cho thấy sự coi thường pháp luật và không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân của bị cáo.
[4] Về hình phạt chính: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người trưởng thành nhưng do ham chơi, lười lao động nên không chịu tu dưỡng bản thân làm người công dân có ích cho xã hội mà sa vào con đường phạm tội. Do vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Mức hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không xác định được bị cáo có tài sản riêng vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại chị Lại Thị Minh T3 đã được cơ quan điều tra trả lại 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax, 256GB, chị không có yêu cầu đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị Thu H1 đã nhận lại số tiền 26.700.000 đồng từ gia đình bị cáo là tiền chị trả cho bị cáo khi bị cáo bán điện thoại, chị không còn đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý tài sản, vật chứng trong vụ án: 01 chiếc áo phông đã qua sử dụng; 01 quần bò màu sáng màu; 01 đôi giày sáng màu, loại giày bảo hộ lao động, đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ lưỡi chai màu xanh xám, phần lưỡi chai có đính chữ NS 1996, đã qua sử dụng do Nguyễn Văn T1 tự nguyện giao nộp, bị cáo không đề nghị nhận lại và không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.
Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, vỏ màu xanh, số Imei 1: 868038050219618, số Imei 2: 868038050219600; bên trong có gắn 01 sim điện thoại số 0969.278.xxx, số seri: 8984048000933043179, đã qua sử dụng
[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên, chứng cứ buộc tội, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và về mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử thấy có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.
[9] Các vấn đề khác liên quan đến vụ án: đối với chị Nguyễn Thị Thu H1 khi mua điện thoại của bị cáo nhưng không biết đây là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý; Đối với số tiền 26.700.000 đồng chị Bùi Thị H là vợ của bị cáo đã tự nguyện trả cho chị Nguyễn Thị Thu H1 là do được bị cáo tác động nhờ bồi thường nên không xem xét giải quyết.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn T1 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2024.
2. Về xử lý tài sản, vật chứng: căn cứ điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo phông đã qua sử dụng; 01 quần bò màu sáng màu đã qua sử dụng; 01 đôi giày sáng màu, loại giày bảo hộ lao động, đã qua sử dụng; 01 chiếc mũ lưỡi chai màu xanh xám, phần lưỡi chai có đính chữ NS 1996, đã qua sử dụng.
Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (kiểu dáng OPPO A54), vỏ màu xanh, đã qua sử dụng kèm 01 sim điện thoại.
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng số 216/BB-THA ngày 18/6/2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 phải nộp 200.000₫ (Bằng chữ: hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |
9
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Bùi Đức Nhân – Nguyễn Thị Hương Linh |
Lê Thị Thu |
Bản án số 157/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 157/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Văn T trộm cắp sản
