TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 157/2024/HSPT Ngày: 16-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hùng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Hoài
Ông Nguyễn Hữu Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 129/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn Q; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1997 tại: Bến Tre; nơi ĐHKHTT: Ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre; nơi tạm trú và cư trú: Số C, đường C, Phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q1 và con bà Bùi Thị S; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số: 165/2015/HS-ST ngày 07-9-2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xử phạt 12 tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Trong vụ án này còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Q là bạn trai của Phan Thị Kim L, cả hai cùng nhau buôn bán hàng rong tại Quảng trường L. Vào tối ngày 19-6-2022, do có mâu thuẫn trong việc tranh giành vị trí buôn bán với anh Đinh Hữu T, vợ chồng anh Đỗ Đình H (Cùng là những người bán hàng rong tại Quảng trường L) nên Phan Thị Kim L đã cãi nhau và dùng dao đâm anh Đỗ Đình H, dùng kéo ném chị Phan Thị N nhưng không trúng, không gây ra thương tích gì. Sau đó vợ chồng anh H chị N, anh Tân d đồ đạc đi về và không bán nữa.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, nghe L kể lại sự việc tranh giành chỗ buôn bán nên Q bực tức đi về kho ở đường T, Phường C, thành phố Đ lấy một cây kim loại tròn, rỗng ruột, màu trắng dài khoảng 60cm bỏ vào túi xách và mang đến vị trí L và Q đang bán.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, anh H và anh T mua hai thùng bia ra khu vực Quảng trường để nhậu cùng một số thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cho thuê xe điện tại khu vực Quảng trường L. Nhóm của anh H và anh T ngồi uống bia ở khu vực cầu thang của Quảng trường, gần vị trí của Q đang bán. Lúc này Nguyễn Văn Q bực tức sự việc trước đó và nghĩ nhóm của anh H, anh T đang khiêu khích mình nên Q lấy cây sắt đã chuẩn bị từ trước đi về hướng của nhóm anh H, anh T đang ngồi. Khi đi lên hết cầu thang, Q gặp một nam thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đang đứng ở đây, Q không nói gì mà tiếp tục đi về hướng của nhóm anh H, anh T đang ngồi, thấy vậy nam thanh niên cũng đi theo. Q đi đến vị trí của anh H đang ngồi dùng gậy đánh liên tiếp nhiều cái vào đầu, lưng của anh H. Anh T di chuyển người về hướng của anh H để đỡ thì bị Q đánh một cái trúng vào đầu, đồng thời nam thanh niên đi cùng với Q dùng tay chân đấm đá nhiều cái vào người của anh T. Anh H và anh T đứng dậy bỏ chạy xuống cầu thang thì Q và người thanh niên đi cùng với Q tiếp tục đuổi theo và dùng hung khí đuổi đánh anh H, anh T. Lúc này, Phan Thị Kim L đang đứng ở khu vực phía trên Quảng trường thấy Q đang đuổi đánh nhóm của anh T, anh H nên L cũng chạy xuống hiện trường để can ngăn. Đến khi anh H và anh T bỏ chạy về hướng nhà hàng T2 thì Q và nam thanh niên đi cùng mới dừng lại.
Sau khi xảy ra sự việc Công an Phường 10 đã mời Nguyễn Văn Q về trụ sở để làm việc. Tại cơ quan Công an, Nguyễn Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình.
Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố Đ có Văn bản số: 205/UBND ngày 12-7-2022 xác định các trường hợp buôn bán hàng rong tại Q, Phường A, thành phố Đ, Lâm Đồng (khu vực cấm buôn bán), trong quá trình buôn bán đã xảy ra mâu thuẫn do tranh giành chỗ bán và xảy ra sự việc dùng hung khí đánh gây thương tích, đây là vụ việc gây ảnh hưởng rất xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương Phường A nói riêng và thành phố Đ nói chung.
Tang vật, vật chứng thu giữ:
- 01 (một) cây bằng kim loại màu xám, dài 80cm, đường kính 03 cm, đã qua sử dụng. Ngày 24-6-2022, Nguyễn Văn Q không tìm thấy tang vật đã sử dụng để đánh nhau nên ngày 19-6-2022 nên Q đã giao nộp cây bằng kim loại màu xám, dài 80cm, đường kính 03 cm cho Công an P, thành phố Đ và trình bày đây là hung khí mà Q sử dụng để đánh nhau nên đây không phải là tang vật của vụ án. Cây kim loại tròn Q dùng để đánh anh T và anh H không thu giữ được.
- 01 (một) USB được niêm phong trong phong bì màu trắng có chữ ký của Nguyễn Phúc T1, Nguyễn Đức Hải L1 và hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh L, bên trong chứa 03 (Ba) đoạn video clip ghi lại một số hình ảnh liên quan đến vụ án có tên lần lượt: “3528924174611”;“3528924477302"; “8124898853455598181” được lưu cùng hồ sơ vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Đỗ Đình H, sinh năm: 1988; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: số D T, Phường H, thành phố Đ, Lâm Đồng bị hai vết thương rách da tại cổ tay phải. Ngày 22-7-2022, Trung tâm Pháp y tỉnh L đã có Bản kết luận giám định pháp y số 341/2022-TgT kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Đỗ Đình H: 4%. Tổn thương do vật sắc gây nên. Sau sự việc anh Đỗ Đình H đã có đơn xin bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi đánh anh H gây thương tích, không yêu cầu phải bồi thường bất cứ chi phí gì cho anh H. Tuy nhiên, anh H đề nghị Cơ quan chức năng xem xét xử lý hành vi gây rối trật tự công cộng của các đối tượng đuổi đánh anh H và anh T.
- Anh Đinh Hữu T, sinh năm: 1988; nơi đăng ký thường trú: thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: số D T, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng không bị thương tích gì và không điều trị tại cơ sở y tế. Anh T không yêu cầu giám định tỷ lệ thương tích và không yêu cầu bồi thường bất cứ chi phí gì cho anh T.
Cáo trạng số: 231/Ctr-VKS ngày 05 tháng 9 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại Quyết định số 53/2023/HSST-QĐ ngày 29-11-2023, Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt để điều tra bổ sung: thu thập các tài liệu, chứng cứ bổ sung liên quan đến việc thi hành Bản án số 165/2023/HSST ngày 07-9-2015 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Q tại Cơ quan thi hành án hình sự nhằm xác
định bị can Nguyễn Văn Q đã chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo theo bản án hay chưa để xác định rõ nhân thân của bị cáo.
Sau khi thực hiện điều tra bổ sung theo các yêu cầu của Toà án, đã xác định được bị cáo chưa chấp hành Bản án số 165/2023/HSST ngày 07-9-2015 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, ngày 26-2-2024 Cơ quan điều tra đã ban hành Bản kết luận điều tra bổ sung vụ án hình sự đề nghị truy tố; ngày 23-5-2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt có công văn số 72/CV-VKSÐL giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố.
Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2024/HSST ngày 27/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 29/5/2024 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo, không thắc mắc, khiếu nại bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 19-6-
2022, do có mâu thuẫn trong việc tranh giành chỗ bán hàng, bị cáo Nguyễn Văn Q đã có hành vi dùng cây sắt tròn dượt đuổi đánh anh Đỗ Đình H và anh Đinh Hữu T tại khu vực Quảng Trường L, Phường A, thành phố Đ là nơi công cộng có đông dân cư và du khách tới tham quan, gây ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự tại địa phương.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Văn Q2 đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo; Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có 1 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 là trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo, không xuất trình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có cơ sở để xem xét. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200 .000đ án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đỗ Mạnh Hùng. |
Bản án số 157/2024/HSPT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 157/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q "Cướp tài sản"
